1.- Gia tôc LÊ-DìNH

           Các trang phiên dịch sau đây do tôi nhờ một người cháu tôi ở Việt Nam tìm giúp một dịch giã. Cháu tôi lại nhờ một công ty dịch vụ ở thành phố HCM làm.

            Rất mau chóng và tiện lợi. Nhưng có một điều là bất kỳ bản dịch nào, dù dịch giã  tài hoa cho mấy, củng phản bội tác giả. Vì dịch giã không có thể đứng vào địa vị của tác giã đễ hiễu được tư tưởng và tâm trạng của người nầy, cùng "thời" và "thế" trong quá khứ mà mọi việc đã xảy ra, vì đó khó tránh khỏi mọi sai lầm suy diễn.

            Thêm nửa,  "VnTranslation", cũng như các công ty dịch vụ trên các "mạn" như  Babylon, Systran, hoặc Bing, Google, hay xử dụng phần mền tự động (logiciel). Có người đính chính lại nhưng không tránh được các điều chỉ trích ở trên.

            Tai hại hơn nửa là khi có bàn tay kiểm duyệt nhúng vào (như một vài cường quốc khác trên thế giới !). Văn kiện có thể bị cắt một vài hàng hay tư tưỡng bị đảo ngược lại. Vào thời đại này, tôi không trách cứ các hành vi bị cưỡng bách của họ.

            Có điều là phãi mất công sữa chửa, bổ túc và điều chỉnh lại, nhưng tác giả nào chân thành và chính trực có thể lẩn tránh ?

            Nhưng nếu tôi tự phiên dịch, sẻ mất rất nhiều thì giờ và công phu, do sự thiếu kinh nghiệm và kiên nhẫn, sau khi hơn nửa thế kỷ sống xa quê hương.

            Kết thúc, tôi thành thực cám ơn sự giúp đở của dịch vụ VnTranslation", cùng sáng kiến cùa cháu tôi Nguyển Phước Lộc.

            Lausanne ngày 7 tháng 9 năm 2013.

            LÊ-ĐÌNH Tuế

:             Các bài dịch sau đây đã dược người cháu Lê Quang Dũng ở quê nhà vui lòng điều chỉnh lại, và tôi củng nhân dịp bổ túc thêm vài chi tiết chưa kể hết trong các bài pháp ngữ.

            Lausanne ngày 9 tháng 9 năm 2013. LĐ. T.

            Viết những trang này, tôi dành riêng cho các con các cháu của tôi, để nhắc nhở cho chúng biết về ông cha của chúng, cùng một phần gia tộc nội hay ngoại ở quê hương xa xôi...

             Hồi tưởng lại trong tâm trí, Nguyên nhớ rỏ hình ảnh của ông và của cha mình. Thực ra hai hình bóng này luôn gắn liền với nhau cho nên không thể nhớ đến người này mà không nhớ đến người kia. Vả lại, Nguyên tin chắc rằng đã thông hiểu về ông nhiều hơn là về cha, và có một mối liên hệ dễ dàng hơn với ông nội. Nguyên luôn nhớ như in hình dáng thanh mảnh của một nhà nho chính cống, một khuôn mặt phúc hậu với vầng trán cao, cái mũi hơi khoằm, mái tóc dài buộc gọn thành búi phía sau gáy, chòm râu mỏng và nhất là những chiếc móng tay cong và dài ít nhất cũng gần 2 tất (Anh ông nôi duoi dây).

             Ngay từ tấm bé, một cách hồn nhiên, Nguyên biết rằng ông nội cũng như cha mẹ anh rất quý mến anh : Tình thương của ông dành cho anh là vô điều kiện. Anh không cố gắng tìm cách đòi hỏi để được yêu quý nhiều hơn so với 4 em trai và 3 em gái, những người ra đời sau anh. Mẹ anh, vì muốn tránh việc các con ganh tị lẫn nhau, vẫn thường nói với anh rằng nếu như mẹ có chiều các em nhiều hơn một chút thì bởi vì chúng bé bỏng hơn, dễ bị tổn thương hơn và cần sự chăm sóc nhiều hơn. Nguyên dễ dàng chấp nhận lý lẻ này nhưng thực ra trong lòng vẫn muốn được công bằng so với các em mỗi khi bị phạt vì những lỗi lặt vặt thường ngày. Mấy anh em sinh lực dồi dào đến nỗi nhà hàng xóm so chúng như 5 con hổ con sung sức. Và Nguyên, đứa nhiều nghịch ngợm nhất là đứa hay bị phạt nhất. Mẹ anh (1902-1942) giải thích rằng : Là anh cả thì phải làm gương cho các em. Anh thừa nhận điều ấy nhưng vẫn không muốn lúc nào cũng bị xem là tâm điểm và phải chịu lỗi thay cho một cậu em hay tất cả lũ em trai cũng nghịch ngợm chả kém gì. 

             Đối với Nguyên, sự công bằng quan trọng hơn là tình yêu thương. Nếu như mẹ anh (ảnh phía dưới, bên trái) rất dễ nổi cáu, thì cha anh ấy lại thể hiện sự nghiêm khắc của mình bằng một vẻ mặt tức giận nhưng cũng chẳng có hiệu lực gì đối với thằng con nghịch ngợm bướng bỉnh và rạn đòn. Anh không thích mẹ hay kể lại những trò nghịch dại của mình với những người khách đến thăm nhà. Một lần nghe trộm mọi người nói chuyện, anh biết rằng mình là đứa con thứ hai vì người anh cả đã mất khi lọt lòng. Mẹ cũng kể rằng Nguyên là đứa cháu cưng của ông nội, và thậm chí ông còn để cho anh chơi và vô tình đập vỡ những món đồ quỳ giá bằng gốm mà cụ mang về từ Trung Quốc, khi cụ được vua Tự Đức cử làm sứ giả cùng với quan nhiếp chính Nguyễn Văn Tường.

            Cũng tình cờ, Nguyên được nghe phong phanh về chi tiết này, bởi vì ở Việt Nam nó giống như một điều cấm kỵ. Người ta thờ cúng tổ tiên, tôn kính tổ tiên, nhưng người ta không dám nói chuyện về họ nhất là phãi tránh gọi tên húy của họ. Cha chẳng kể gì cho Nguyên nghe về họ cả. Tuy nhiên anh ấy phải khéo dò hỏi ông nội để biết rằng ai là vị quan mặc bộ quan phục triều đình trong tấm ảnh bên bàn thờ tổ tiên đặt ở gian phòng chính của ngôi nhà. Nguyên biết rằng đó là cha của bà nội đã mất mà chẳng thêm một chú thích gì khác. Ngược lại, ông kể cho anh nghe về cụ cố LÊ ĐÌNH Tuấn, quan quyền thượng thư bộ Hình người có quyền “tiền trãm hậu tấu” (chặt đầu bất cứ tên tội phạm nào trước khi tấu với nhà vua). Đó là chi tiết duy nhất mà anh được biết nhưng điều ấy chẳng gây ấn tượng gì đối với một đứa chắt nhỏ tuổi.

            Trong một chuyến đầu tiên về thăm quê nhà năm 1991, người anh họ, Lê Đình Đệ (Cháu trai của người anh cả của ông nội của Nguyên, Lê Đình Tú) đã cho Nguyên xem một bản sắc lệnh của triều đình trong đó cụ Lê Đình Tuấn khi về hưu được tiến chức làm thượng thư bộ Hình vào năm thứ 32 triều vua Tự Đức (1879). Tham khảo tài liệu ở cuối trang. Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, ông vừa chuẩn bị cho kỳ thi tiến sĩ của mình vừa cắt cau hái trầu đem đi bán ở chợ (một phong tục truyền thống của người Việt nam là nhai trầu cau với tí vôi để làm răng chắc khỏe). Trở thành quan bố chánh sau đó làm quền thượng thư bộ hình,  Sau đó, ông được vua Tự Đức cử đi cùng với người bạn đồng triều làm Đặc sứ toàn quyền ở Trung Quốc. (Nguyễn Văn Tường được bổ nhiệm làm thượng thư bộ hình vào năm 1874, và được phong tước Quận công).  Họ đã cùng vun đắp tình bằng hữu bằng cách gắn kết đôi bên gia đình. Quan đại thần phụ chính gả người con gái (Nguyễn Thị Tứ) cho Lê Đình Thống (người con trai thứ hai của ông Lê Đình Tuấn) chính là ông nội của Nguyên.     

            Bốn mươi năm sau, một người anh họ khác cũng kể cho anh nghe rằng bà nội của Nguyên (bà Nguyễn Thị Tứ), là con gái của quan đại thần nhiếp chính Nguyễn Văn Tường và bà Nguyễn - Khoa Thị Bồng, con gái đầu của quan Bố Chánh Nguyễn Khoa Học. Từ đó mà sinh ra mối quan hệ họ hàng thông gia với gia đình Nguyễn-Khoa. Anh không hề biết gì về những chi tiết này bởi sự im lặng kín đáo của cha mẹ. Ở Việt Nam, chỉ cần biết rằng có họ hàng với nhau là đủ. Thận trọng đến thế là cùng !

            Cần phải nhớ rằng hai vị đại quan triều đình Nguyễn Văn Tường (Ảnh bên cạnh) và Tôn Thất Thuyết (Ảnh bên dưới) đóng một vai trò rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Là quan nhất phẩm và quan nhị phẩm được vua Tự Đức lựa chọn, các ông đã giúp đỡ vị vua trẻ Hàm Nghi chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp. Phong trào Cần-Vương nổ ra ngày 5-7-1885, kinh thành Huế bị tấn công nhưng bị quân Pháp phản chiến. Thất bại, Tôn Thất Thuyết dẫn vua Hàm Nghi đến Tân Sở - Quảng Trị, một tỉnh ở phía Bắc thành nội, chính đó là căn cứ của phong trào Cần Vương. Quan đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường được giao nhiệm vụ trở về Huế để đàm phán, nhưng đã bị De Counrcy giam lỏng ngày 6-7-1885, với một tối hậu thư yêu cầu trong 2 tháng phải lập lại hòa bình. Sau 2 tháng (5-9-1885), ông bị bắt vì lý do không tôn trọng bản tối hậu thư và bị đầy đến Tahiti, ở đó ông mất trong nhà tù Papeete (30-7-1886).  Hơn 3 năm sau, do bị nội phản, Hàm Nghi bị bắt ngày 26-9-1988 và bị giao cho người Pháp. Tôn Thất Thuyết phải trốn sang Trung Quốc để cầu cứu. Nhà vua trẻ sau đó bị đầy đến Alger (Algérie) ngày 14-12-1888, và mất tại đó năm 1943.

30 năm sau, vào năm 1915, bố của Nguyên, một hậu duệ của kẻ thù lớn nhất của Người Pháp, lại đi làm “Thư ký Toà sứ " cho Toà Khâm sứ An Nam ở Huế, nơi đặt bộ máy chính quyền bảo hộ Pháp.

            Có người thân đã kể cho Nguyên rằng cha của anh được sự che chở của một vị quan đại thần trong triều, Quận công Nguyễn Hữu Bài, người đã được Pháp kiên nể. Ông đã để lại tên tuổi của mình trong lịch sử đất nước bởi hai câu thơ  này :   

            "Đày vua không Khả,
             Đào mả không Bài"

             Sở dĩ nói như vậy vì ý đồ của quan khâm sứ Mahé muốn khai quật những lăng tẩm của các vị đế vương để tìm kiếm kho báu, đã bị Nguyễn Hữu Bài ngăn lại, ông từ chối ký văn bản cấp phép và khi quan khâm sứ Fernand Levecque dựa vào sự đồng thuận của các quan đại thần triều đình muốn kiếm cớ để đày vua Thành Thái, thì người duy nhất chống lại điều này là Ngô Đình Khả (Cha của cố tổng thống Ngô Đình Diệm). 

             Nguyên cũng không biết điều gì đã gắn kết gia đình anh ấy với gia đình Nguyễn Hữu Bài. Ông nội anh nói rằng đó là một món nợ ân nghĩa của hai bên.

             Anh nhớ lại lúc chừng 6 hay 7 tuổi, vào dịp tết Nguyên Đán, anh cùng với cả gia đình (trừ ông nội) đem quà tặng đến nhà ông Nguyễn Hữu Bài. Trong khi cha mẹ anh ấy đứng chắp tay trước ngực thì Nguyên và em trai cúi lạy dưới đất trước vị quan lớn ngự trên một chiếc ghế cao. Trong buổi hôm đó điều làm anh chú ý nhất là màu đỏ của chiếc quần của vị chủ nhà. (Điều buồn cười là em trai anh, sau hơn 80 năm, cũng vẫn còn nhớ đến kỷ niệm đó : cậu ấy cũng ngạc nhiên về chiếc quần đỏ ấy, bởi vì trong dân chúng chẳng ai mặc quần màu này).

              Mặt khác, còn có một mối liên hệ nữa mà ban đầu Nguyên không được biết rỏ. Đó là câu chuyện về một người bác rể của anh. Một cô bác kể với anh rằng Phùng Duy Cần, em rể của cô, quê gốc Hà Tĩnh, một tỉnh ở phía Bắc miền Trung, lúc ấy giữ chức quan nhỏ (Thừa phái) làm việc dưới lệnh của ông nội lúc đó đang được giao nhiệm vụ tu sửa Ngọ Môn (Cửa Bắc), cổng chính vào kinh thành Huế (Tranh bên cạnh) .Vị quan trẻ trở thành thân cận với gia đình và xin kết duyên với chị của cha Nguyên (Lê thị Táo). Sau đó, lần lượt có với nhau 1 con trai và 2 con gái. Người con gái thứ hai, chị em cô cậu của Nguyên, đã trở thành một nhà điêu khắc nổi tiếng, sau một thời gian từng làm nghề nha sĩ tại Paris dưới cái tên Điềm Phùng Thị (Tranh bên dưới).   

            Con gái của Phùng Thị Đậu (chị của Phùng thị Cúc), tức cháu gái của Nguyên ở Paris, đã cho Nguyên xem, trong một bút ký của mẹ, rằng cách đây khoảng 40 năm ông nội Phùng Duy Cần là con trai nuôi của Nguyễn Hữu Bài. Nguyên thấy buồn cười về những bí mật cấm kỵ của gia đình. Mặt khác, điều này khác hẳn so với những câu chuyện kể về cuộc đời của ông ngoại của mẹ nó, tức quan đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường. Những điều mà Nguyên kể trên đây xung quanh chủ đề này được minh chứng bằng những sự kiện lịch sử sau đợt rút quân cuối cùng của quân đội Pháp bởi vì vào thời kỳ thực dân đô hộ, người Pháp và thậm chí một phần các gia đình hoàng tộc thân Pháp đã hoàn toàn bịa ra những câu chuyện hoang đường nhằm bôi nhọ phong trào yêu nước.

            Đầu tiên họ đưa ra một truyền thuyết về Nguyển văn Tường: một người đàn ông cao lớn khuôn mặt trắng với bộ râu màu xanh (?), chắc chắn là một người ở một “vủ trụ khác” đến ! Chúng quên rằng chính vua Tự Đức, người đứng đầu triều Nguyễn, đã chọn ra người này làm quan nhiếp chính vì tin tưởng vào vị quận công ngay thực và trung thành. Tuy thế, nhửng kẻ thù lại miêu tả một nhân vật giối trá, gian mưu, giống như một Machiavel thứ hai. Họ vô cớ buộc tội ông đã sát hại 3 vị vua liên tiếp và đã có quan hệ thân mật với bà Thái Hậu! Sau thất bại của phong trào nổi dậy nói trên, thậm chí một vài kẻ thù địch hoặc vài quan thượng thư thân Pháp trong NamTriều còn nói rằng ông đã phản bội đất nước khi muốn bắt tay với Pháp! Tuy nhiên, chính nước Pháp đã đày ải ông đến Tahiti nơi ông qua đời – vì lý do bị mắc bệnh viêm ruột. (Vậy mà trong một báo cáo y tế bí mật, vị bác sĩ đưa ra quyết định chôn cất nhận định rằng một vài chiếc răng của người chết đã bị rụng trong miệng và những cái khác thì lung lay!). Khi thi thể ông được phép đưa về đất nước, vua Khải Định còn ra lệnh đánh thêm 100 gậy lên chiếc quan tài bọc thép. Ông ta còn muốn nghiêm trị bằng cách tịch thu hết tài sản, của cải, nhà cửa của người đã khuất, nhưng cuối cùng phải từ bỏ kế hoạch trừng phạt này do vấp phải sự phẫn nộ của một số quan đại thần trong triều cũng như công luận, những người không thể bị che mắt. Trong đám tang của ông đã có rất nhiều người đến dự, trong số đó có một vài thành viên trong gia đình Tôn Thất Thuyết. 

            Phụ chú : (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) :

             Không những người Pháp ở Gia Định đổ một loại hóa chất gây cháy bỏng vào miệng Nguyễn Văn Tường, khi tra tấn (để khỏi la hét, gào rú), De Courcy còn đánh điện tín cho Caffort, trị vì Côn đảo
: "Tầm quan trọng của những tù nhân chính trị này phải được giám sát nghiêm ngặt với bất cứ giá nào", trong đó, Nguyễn Văn Tường là "kẻ thù nguy hiểm nhất" đối với Pháp.

            Khi ông và hai người bạn tù của ông đã bị giam giữ tại Côn Đảo, chính phủ Pháp lại chuẩn bị lưu đày họ tậnTahiti
; bấy giờ, triều Đồng Khánh, dưới sự chỉ đạo của De Courcy, đã "xử án vắng mặt" nhóm chủ chiến triều đình Huế, với nội dung chính là hành trạng của họ từ ngày 5 tháng 7 đến 5 tháng 9 năm 1885. Bản án chung thẩm ấy được xét xử, công bố vào tháng 8 âm lịch Ất Dậu (tháng 9 năm 1885) :

            "Tôn nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo.   


            Dĩ nhiên, trong sách giáo khoa lịch sử Việt Nam Trần Trong Kim đã không thuật rỏ tất cả những chi tiết này. Ngược lại, khi quan nhất phẩm quay trở về Huế để đàm phán, nhà sử học lại ghi rằng ông trở về “để bắt tay với người Pháp”. Tác giả chỉ đưa ra bản gốc lược giản với những chi tiết không chính xác có thể được đưa ra bởi chính quyền bảo hộ, về chính quyền bù nhìn và những tội ác được giả định cho kẻ thù của nước Pháp. Cũng theo cách đó quan nhị phẩm Tôn Thất Thuyết (Ảnh bên trái) giữ chức thượng thư Bộ Binh được vua Tự Đức tin chọn bởi tính cương trực và trung thành, lại bị coi là một kẻ hèn nhát, xoành xĩnh và ngu đần.

            Vì không thể bắt được ông, cho nên cha của ông là Tôn Thất Đính bị thay ông đi đày cùng với quan Nhất phẩm. Tuy nhiên cũng phải mất hơn 3 năm mới dành được chiến thắng về mặt quân sự với phong trào khởi nghĩa lan rộng khắp Trung Kỳ.   

            Năm 1931, khi Nguyên còn đang học cấp 1, buổi tối anh học bài ở nhà. Khi anh cất cao giọng đọc bài lịch sử về chương sách liên quan đến Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, cha và ông nội đều ngồi đó và nghe anh đọc nhưng họ đều ngồi im không nói gì. Tại sao cha và ông lại không muốn đính chính lại và cho anh biết sự thật? Lại bí mật gia đình? Lại cần phải kín đáo!  

            Nguyên không thể nào hiểu nổi tâm tư và suy nghĩ của cha mình, người sống rất hòa thuận với bà con gia đình bên ngoại.   

            Ông nội anh không che giấu sự bất bình đối với những người theo lề lối phương Tây. Khi Nguyên bắt đầu đi học, ông dạy anh câu nói của Khổng Tử: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Câu nói này không chỉ muốn nhắc về phép lịch sự mà về cả cách nói năng đi lại cho từ tốn, ăn mặc cho chỉnh tề dù có khi có mặc áo cũ hay áo vá, về cách ngồi trên chiếu phãi sửa cho ngay ngắn. Ở phương Đông, người ta đánh giá con người với cái nhìn đầu tiên về cách cư xử.   

            Thỉnh thoảng được theo ông lên phố để mua vài thứ thuốc bắc, Nguyên thường hỏi ông tại sao người ta lại gọi người Trung Quốc là Chú khách, mà gọi người Pháp là thằng Tây: “Đó là vì người Trung Quốc đã mang đến cho chúng ta một nền văn hóa, ông nói, trong khi bọn Pháp chỉ là quân xâm lược mà thôi !”.

               Có những chủ đề mà Nguyên không bao giờ dám đề cập một cách rành rọt với cha mình. Người chị cả cũa cha Nguyên kể lại rằng ông nội anh vốn được cử làm quan tri huyện ở Bắc Kỳ nhưng đã nhường lại chức quan này cho anh cả LÊ-ĐÌNH Tú, người sau này đã bị giết trong một trận cướp bóc của bọn thổ phỉ “Quân Cờ Đen” ở biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc. Nguyên luôn luôn tò mò về điều đó, ngay lập tức hỏi ông nội về chi tiết này. Ông bảo rằng ông và anh cả được học Quốc Tử Giám học (Trường dành riêng cho con trai của các quan (ảnh bên phải), ra trường đỗ Khiêu, tương đương với bậc Tú Tài (Bằng cấp 3 ở Việt Nam). Thêm nữa, là con quan, họ không cần bằng cử nhân giống như những thí sinh khác không được ưu tiên, mà vẫn được cử làm tri huyện (Chủ tịch huyện). Lấy cớ muốn ở gần cha mẹ cho nên ông đã nhường chức cho anh cả.  Nguyên muốn biết rỏ hơn :

              "- Nhưng O cháu (Lê thị Tùng) nói rằng trước đó ông vốn không thích làm quan, Nguyên nói. Thêm nữa ông cũng không muốn dự vào các kỳ thi Hương.
            - Đúng như rứa ! Ông cười.
            - Tại răng ?  Nguyên hỏi lại.
            - Cháu ông thật tò mò và cứng đầu, nhưng ông muốn cháu hiểu rằng: “Mục đích sống quan trọng của con người là tự hoàn thiện và “tu nhân tích đức”. Vậy mà, một khi đã làm quan thì trên chốn quan trường, có khi sẽ phải làm những việc không hợp với đạo lý, điều này chẳng những không tích đức mà còn để nợ cho đời sau. Của cải, danh vọng, vinh quang, đôi khi cũng chỉ là phù vân thôi !”.  

   

           

                                         (Các quan lại trong bộ lễ phục triều đình (1930)

            Nguyên vẫn còn nhớ đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Công Trứ mà thỉnh thoảng ông vẫn xướng :

                   « Trên đường danh lợi vinh liền nhục,
                   Trong cuộc trần ai khóc lộn cười ! »

             « Làm phúc cho mọi người, đó là tôn chỉ của ông ». Ông thường nói với Nguyên rằng: “Dù xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người !

             Tự học làm nghề y học cổ truyền Trung Hoa, (nhờ các sách y học của cha đi sứ bên Tàu đem về),  ông bỏ tiền túi mua các loại nguyên liệu làm thuốc: Thân cây, lá cây, rể cây, một mình ông tự bốc thuốc và phát miễn phí cho những người bệnh đang cần. Những người dân này, tùy theo từng gia cảnh, mang biếu ông đủ thứ quà cây nhà lá vườn: Hoa quả, rau củ, tôm cá, gà vịt, thịt thà, bánh trái, có khi thúng gạo, hoặc chai rượu.  Nhìn qua những món quà này vị thầy thuốc luôn xua tay từ chối không nhận. Những người khách lại làm bộ ra về nhưng thực ra sau đó kín đáo vòng quay lại phía bếp bên cạnh ngôi nhà. Nguyên thích thú quan sát chuyện này lặp đi lặp lại rất nhiều lần.

            Hàng năm, cứ vào ngày mồng năm tháng năm, Nguyên giúp ông nội đi hái thuốc trên triền núi Ngự Bình, vào đúng giờ ngọ (12 giờ, lúc những cây thuốc phát huy tác dụng cao nhất). Những bó thuốc được phơi ra trên sân nhà trước khi chờ sắc thuốc.  

            Tiếng tăm của ông lan rộng ra miền Bắc. Nhất là một vài người đồng nghiệp của bố Nguyên chuyển công tác ra Hà Nội, cũng đã phổ biến một phương thuốc công hiệu xuất từ Huế để chữa bệnh hen xuyễn. Tuy thế, nếu như phương thuốc này đặc biệt hiệu quả đối với người ngoài thì nó lại không phát huy tác dụng đối với chính con dâu của ông. Mẹ của Nguyên phải nhờ cậy vào em gái mình, một trong những phụ nữ đầu tiên trong nước làm nghề y học cổ truyền Trung Hoa. Bà có một người em trai cũng làm nghề này nhưng đã mất vào năm 30 tuổi do bị nhiễm dịch tả trong khi ông đi chữa bệnh ấy cho người dân trong làng.

            Ông ngoại của Nguyên là một người khổng lồ so với những người dân bình thường. Với chiều cao gần 2 thước tây, ông đóng cho mình một cái quan tài riêng bằng gỗ đàn hương mà ông để bên cạnh gian nhà chính. Ông bệ vệ tọa lạc trên một chiếc sập chạm trổ, cũng là nơi để ông ăn cơm và uống trà. Khi Nguyên, vào khoảng bốn hoặc năm tuổi, về quê thăm ông cùng với bố, hay có thói quen chơi trò ú tìm bằng cách chui vào trong chiếc quan tài thơm mùi gỗ hương và nấp ở trong đó cho đến khi mọi người tìm thấy. 

            Vốn là võ tướng, nhưng ông đã phải rời binh nghiệp rất sớm, bị tước bỏ hết tước vị do có liên hệ gia đình với hai người anh họ là Đoàn Trung và Đoàn Trực, về vụ “giặc Chày vôi” Hai người này cùng với một nhóm vũ trang đã xâm nhập vào Thành Nội. Nhưng cuộc tấn công đã bị thất bại. Họ bị bắt và xử tử cùng với cả ông bà, bố mẹ, vợ con, hậu duệ (Trong trực hệ). Kết tội tử hình cho cả ba thế hệ gia đình của người phạm tội (Tru di tam tộc), là luật được áp dụng cho tội chống lại triều đình. Nguyên không hề biết gì về sự việc đau lòng này. Vậy nhưng khi anh đọc to bài học lịch sử liên quan đến vụ này, anh không hề thấy một phản ứng gì từ phía ông cũng như từ cha mẹ anh cùng đang ngồi trong gian chính nghe anh đọc.

           Vào năm khoảng 15 tuổi, trong một lần về thăm quê ngoại cùng với cha để dự đám giỗ bên gia tộc của ông bà ngoại, Nguyên nhận thấy rằng những người xung quanh anh nói chuyện rất nhỏ, thì thầm giống như những kẻ đang âm mưu tạo phản trong một không khí tang thương. Nguyên gặng hỏi một người cậu trẻ (Đoàn Tồn) ngồi kế bên để biết tên của ông bà đang được cúng giỗ. Cuối cùng thì cậu ấy cũng thì thầm nói cho anh biết tất cả những chi tiết của tấn bi kịch này.

            Không lâu sau, Nguyên đã tìm hiểu về sự lựa chọn của người chị cả của cha. Đóng vai là bà mối, cô bác (Lê thị Tùng1888-1958) đã thu xếp mọi chuyện. Bố của Nguyên không hề biết mặt vợ trươc khi cưới. Dỉ nhiên, ông Loan em trai của bà cũng là một đám tốt. Thiếu gì các cô gái con nhà gia đình danh giá trong thành phố Huế cũng như ở vùng lân cận. Nguyên có cảm tưởng dường như cô bác ấy cố tình né tránh họ cũng như những các cô con nhà hoàng tộc. Tuy nhiên chính cô bác ấy lại lấy chồng một trong những con cháu trực hệ của vua Gia Long (Công Tằng Tôn Chiêm Khoái -1881-1915) ! Điều gì khiến cô bác ấy phải đi tìm một người em dâu ở tận một ngôi làng cách xa hơn mười cây số ? Đó lại là một điều khó hiểu nữa đối với Nguyên. Chẳng lẽ bà lại vô tình phạm thêm một sai lầm chỉ vì muốn cất giấu những bí mật thiêng liêng của gia đình! Năm 1866, ông ngoại của họ là Nguyễn Văn Tường, lúc ấy làm Bố Chánh hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, bị cất chức sau phong trào nổi dậy “giặc Chày Vôi” do anh em nhà Đoàn Trung, Đoàn Trực lãnh đạo, xâm nhập vào Thành nội  ở Huế. Làm sao mà người chị trong khi tìm vợ cho người em lại không biết rằng em dâu tương lai của mình xuất thân trong một gia đình bi ai ở làng An Truyền?

              Ông nội của Nguyên, ngoài những hiểu biết về y học cổ truyền, còn có tài làm thầy “phù thủy” chữa bệnh, nghề mà ông được một thầy ”phù thủy” truyền lại khi cha của ông làm Bố Chánh tỉnh Khánh Hòa ở miền Nam.

              Một ngày nọ, một người dân chài sống trên chiếc thuyền trên sông Hương dẫn theo một cậu con trai với cánh tay băng kín. Ông đặt thằng bé ngồi trên một chiếc bàn tròn. Đứng thẳng, hít sâu, ông ngậm một ngụm rượu trong miệng. Sau đó, giữ hơi thở đều, ông dùng một cây nhựa hương vẽ trong không gian những mô hình bí ẩn, đồng thời thì thầm đọc một câu thần chú. Sau đó thở mạnh ra và phun rượu đó lên cánh tay đau của đứa trẻ và xoa bóp nhẹ nhàng. Gần như ngay tức khắc đứa trẻ có thể dùng tay để di chuyển. Bác ngư dân muốn trả công nhưng ông nội lắc đầu và cười bảo: “Ông không nợ tôi chi hết !”  Ngày hôm sau bác dân chài lại mang đến một con cá to và tất nhiên lại vòng ra sau bếp.        

            Tuy nhiên, phép màu này lại chẳng có tác dụng gì với Nguyên khi anh cũng bị đau cánh tay như thằng bé kia. Ông anh giải thích rằng đó là một điều kỳ lạ, cũng giống như trường hợp của mẹ Nguyên và căn bệnh hen xuyễn của bà: bụt chùa nhà không thiêng. 

            Ông nội của Nguyên có rất nhiều tài lẻ. Cuốn sách gối đầu của ông là cuốn “Kinh dịch”. Nguyên đã từng một lần xin ông giải nghĩa về cuốn sách này. Ông không dùng nó như một cuốn sách bói để đưa ra những lời tiên tri, mà giống như một cuốn sách triết học về cuộc sống mà trong đó ông có thể tìm được những lời khuyên sáng suốt để có cách ứng xử tốt hơn ở những nơi và trong những hoàn cảnh khác nhau, ở hiện tại hay trong tương lai. Đối với ông chẳng có điều gì là thần diệu, chỉ là luật của nhà Phật “Gieo nhân nào gặp quả ấy”(Luật nhân quả), “Nếu mình làm điều tốt, thì sẽ chẳng gặp phải điều gì bất hạnh”, chắc chắn là như vậy. Chính con người tự tạo vận mệnh của mình. (Vận mệnh khác với định mệnh hay thiên mệnh. Nói chung là số mệnh)

             (Khi lớn lên, giao lưu với nền văn hóa Pháp, Nguyên chịu ảnh hưởng một phần tư tưởng triết học Kant : “Hãy làm những điều mình cần phải làm, đừng nghĩ chi về kết quả sắp đến !”. Cách nghĩ này hơi phó mặc cho số mệnh và ít nhiều thiếu quyết đoán, nhưng dù sao nó cũng là một lời khuyên đúng đắn).

            Tuy nhiên ông nội là người tin vào thuyết ngẫu nhiên. Dù khi đi du ngoạn, ông cũng mờ xem sách “Kinh dịch” trước, để chọn giờ nào là giờ hợp hơn để tránh chuyện bất ngờ. Những người thân thuộc hay ngoài gia đình cũng thường hỏi ông xem ngày lành tháng tốt để cưới xin, ma chay. Ông không thiếu việc để làm, nhưng ông vẫn thích bốc thuốc Nam hay thuốc Bắc cho mọi người.

            Ngược lại, Nguyên không tin vào sự ngẫu nhiên, dù đôi khi cũng nhìn chơi vào lời đoán của môn “tử vi” hằng ngày trên báo chí, hoặc thỉnh thoảng cũng mua vé xổ số chờ vận may. 

            Tuy nhiên cũng có những chuyện tiên đoán thực sự mà cho đến khi gần đi hết cuộc đời anh vẫn không lý giải được. 

            Vốn tánh tò mò ông tự mình tìm hiểu các bài học trong những quyển sách mà cha của ông mang về từ Trung Quốc nói về nhân tướng học. Chỉ cần nhìn thoáng qua ông có thể biết được một ai đó có ý đồ xấu hay tốt, bản tánh hào hiệp hay nham hiểm.

            Một ngày nọ, ông nhắc thằng cháu trai rằng đừng nên gần gũi nhiều với người bà con xa tên là Nguyển Tấn Quê, người thường đến chơi nhà, bởi vì trên trán cậu này có nhiều “sát khí”, điều này báo trước một cái chết khác thường (bất đắc kỳ tử). Nguyên chẳng mảy may tin điều này…Vài năm sau đó quả thật anh này bị thất sát do một âm mưu nham hiểm. Trong giai đoạn, anh ấy là Tinh trưởng của ba tỉnh miền Nam An Nam (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa), dưới âm  mưu xâm lược của Pháp 1945-1955 (Chương trình  Atlande) dưới chế độ chính quyền Ngô Đình Diệm, kẻ thù cố ý gây chậm trễ việc cấp vốn trả lương cho quân đội dưới quyền của anh. Những người lính, sau khi không được trả lương suốt hai tháng trời trở nên phẫn nộ. Họ tấn công giữa đêm vào trú sở của quan Tinh trưởng, họ ném anh từ phòng ngủ trên tầng hai xuống phía dưới. Những người lính ở dưới xông vào đánh đập anh dã man. Từ Thụy Sỹ, Nguyên nhận được tin buồn gửi từ Paris báo cho biết rằng một người bạn anh đã bị quân nổi dậy băm thành nhiều mảnh!

            Trở về năm 1943 : (Ký ức của tướng Đỗ Mậu – Sacramento 1995)

             " …. Đêm đầu trên thành phố Cao Nguyên này càng về khuya trăng càng mờ, sương càng lạnh, trời đất thì bàng bạc mơ huyền như tâm sự mông lung của những người vừa thất bại sau cuộc đấu tranh. Thành phố Đà Lạt chìm xuống sau những rặng thông im lìm như chia sẻ nỗi thất vọng của chúng tôi. Trước khi ngủ, ông Nguyễn Tấn Quê còn tâm sự với tôi rằng một khi Bảo Đại đã tiếp tục cầm chính quyền để củng cố thế lực thì tổ chức khó thể thay đổi được tình hình, huống gì ông Diệm, người lãnh đạo của tổ chức lại không phải là một loại nhân vật "anh hùng tạo thời thế" (ám chỉ Hồ Chí Minh). Tôi còn nhớ mãi mấy lời phê phán cuối cùng của ông như một tiếng than não nùng trong đêm vắng: "Chúng ta đã vớ phải cái bè nứa mục rã trôi xuôi theo dòng nước lũ." Nhận định và tâm sự của ông Quê như vậy, chẳng trách gì 10 năm sau, ông đã bị anh em Diệm thẳng tay hạ sát khi họ có quyền lực trong tay" (Theo ký ức ông Mậu, ông NT Quê, bí danh Nguyển văn An, đầu tiên là mưu sỉ của  ông Diệm). 

             Cũng phải mất đến mười năm Nguyên mới có thể mãn tang trong lòng với người bạn củ. Trong giấc mơ anh thường thấy hai anh em đang cùng nói chuyện hoặc dạo thuyền dọc sông Hương. Anh không bao giờ quên được người anh lớn, một con người quá thông minh, quá sáng suốt, nhưng nhiều tham vọng, nên trên con đường chính trị vấp phải quá nhiều bất hạnh ! 

             Nguyên tự hỏi rằng định mệnh con người có thể di dịch hay không, bởi lẽ anh tin vào vận mệnh hơn là vào định mệnh. Đối với anh vận mệnh là cả một quá trình xây dựng phẩm cách con người, trong khi định mệnh (thiên mệnh) dường như là bất biến. Dưới cái nhìn của đạo Phật định mệnh gắn liền với cái nghiệp chướng ( karma) cũng là một quá trình, nhưng ở trong quá khứ, là cái nợ phải trả. Còn vận mệnh tùy thuộc vào thời, vào thế, và tư cách của mổi cá nhân (Tuy nhiên người ta vẫn thường hay lẫn lộn hai khái niệm này, và gọi chung là số mệnh hay số phận). 

            Do đó, anh suy nghiệm ra rằng trong số phận con người, vận mệnh cũng gắn liền với định mệnh. Con người có thể làm chủ được vận mệnh nhưng không bao giờ thay đổi được định mệnh. (Trong kinh Koran đã nói: "Con người sinh ra đã đeo số phận trên cổ mình".)

              Con người có cả đời sống và tự do cải thiện số phận của mình. Không ai phải chịu trách nhiệm về định mệnh của mình nhưng phải biết định hướng hành động và sáng tạo, hướng đến những lựa chọn tốt hơn, và rằng con người có thể bất chấp định mệnh. Nếu như con người cứ để cuộc sống trôi qua hoặc nếu có lầm đường lạc lối, thì định mệnh sẽ đuổi kịp ngay (theo luật nhân quả luân hồi !)

             Sự lựa chọn có thể đưa con người làm nên vận mệnh, nhưng sau đó con người không còn làm chủ được con đường phía trước, bị lôi cuốn vào vòng xoáy định mệnh ! 

             (Vài tài liệu tham khảo vế Nguyên văn Tường được trích ra ở Vikipédia).
          

            PHỤ CHÚ:

             Sắc lệnh triều đình năm 32 (1879) dưới triều vua Tự Đức bổ nhiệm Lê Đình Tuấn giữ chức thượng thư bộ Hình.



 

 

                               Ảnh được trích thành hai phần để nhìn rõ hơn (văn bản và ấn tín nhà vua)

           Sinh ngày mùng 7 -7-1895 tại Phú Xuyên, cha của Nguyên dường như có một sự nghiệp đã định sẳn. Tốt nghiệp trường đào tạo cán bộ hành chánh của chính quyền Bảo hộ, năm 20 tuổi, ông được bổ nhiệm thẳng vào làm việc tại tòa Khâm sứ An Nam (Trú sở hành chánh đồng thời là nơi trú ngụ của quan Khâm sứ), thay vì phải khởi nghiệp từ bước thực tập ở các tòa Công sứ tỉnh lỵ giống như các ứng viên khác. Đầu tiên ông làm thư ký tòa khâm sứ (hạng sáu) vì đó được chức quan đầu tiên : “Hàn lâm viện đải chiếu”, chức quan hàn lâm thứ sáu tương đương vớí các quan lại Nam triều. Nguyên được ông nội kể cho điều này.  

              Như vậy, có tất cả tám bậc tương đương với tám cấp quan. Bậc cuối cùng “Hồng lô tự khanh” là dành cho nhân viên cấp cao, tương đương với bậc quan thứ ba của Triều đình (Bậc thứ nhất được dành cho quan Lại bộ thượng thư triều đình.).        

            Vào thời đó có hai chính quyền song song : chính quyền Bảo hộ Pháp và chính phủ Nam Triều. Trụ sở và các văn phòng của chính quyền Bảo hộ nằm ở phía bên tả ngạn sông Hương, còn kinh thành và Triều đình ở phía bên hửu ngạn sông Hương, được ngăn cách bởi một cây cầu sáu nhịp gọi là cầu Thành Thái hay là cầu Trường tiền.

             Dĩ nhiên chính quyền Bảo hộ nắm cả ngân sách và ban hành mọi quyết định tăng thuế, giữ độc quyền về muối, diêm, thuốc phiện,… Họ chỉ trích một phần trong đó cho bộ tài chính của triều đình. 

            Một viên chức của chính quyền Bảo hộ có thể được chuyển sang làm việc cho Nam triều với một chức quan tương ứng, nhưng không có chiều ngược lại.

            Ước mơ của cha Nguyên là được ở Huế để được ở gần ông nội, sống cùng ông trong căn nhà nằm trên bờ sông Hương, gần gia đình bên ngoại, và nhất là trông coi mồ mả tổ tiên. Ông là con trai cả, trên ông là ba người chị đều đã lấy chồng. Là con trai lớn duy nhất, ông muốn theo phẫm cách một nhà nho giáo biết gánh vác trách nhiệm và giữ lòng hiếu thảo với gia đình.

            Vả lại, ông nội đã giải thích với Nguyên rằng làm việc trong chính quyền Bảo hộ tốt hơn là vì ở đó trên đầu cha chỉ có hai người : Một chánh Văn phòng và một quan Khâm sứ. Trong khi ở Nam triều, một viên chức mới bắt đầu sẽ đứng dưới hàng tá quan lại : tri phủ hoặc tri huyện, án sát, bố chánh, tham tri, thị lang, tuần vũ, thượng thư, cận thần của vua và nhà vua. Để thăng tiến được, cần phải có thật nhiều tiền để biếu những món quà đắt giá cho quan trên, nếu không muốn bị trôi vào quên lãng hoặc ườc mơ được làm việc ở những vị trí béo bở hơn. Đó là những tục lệ phong kiến cưởng bức khó tránh khỏi. Tuy nhiên, vẫn luôn có những quan lại nhiều tham vọng, dù phải mất tiền cống hiến cho bề trên, củng có thể trở nên phong phú bằng cách bóc lột nhân dân dưới quyền cai trị của mình. Thật là một hành vi « thất đức », một món nợ để lại cho con cháu về sau. Ông nội luôn giữ quan điểm này : chữ “Đức” luôn đi liền với chữ “Phúc”. Một gia đình có cả « Phúc lẫn Đức » sẽ được xã hội lúc ấy tôn trọng dù họ phải sống trong cảnh thanh bần.

            Đối với những viên chức của chế độ Bảo hộ, để vượt qua hết tám cấp quan, có hai cách để thăng tiến như sau : thứ nhất được chọn sau hai năm, thứ nhì thì đương nhiên cứ bốn năm được cất nhắc một lần. Được ưu tiên hàng đầu là những người có công trạng đặc biệt, có lần tố giác hoặc làm nội gián ở phe bên kia sông ; tiếp đến những người có tiền, với những món quà biếu hậu hĩnh (Đồ cổ Trung Quốc hoặc Việt Nam) và sau cùng mới đến lượt những kẻ giỏi xu nịnh. Lựa chọn thứ hai sẽ dành cho những vị quan thanh liêm ít tham vọng.
 

            Cha của Nguyên luôn đợi con đường thăng tiến thứ hai, sau mỗi bốn năm được cất nhắc một lần. Một lần Nguyễn đã nghe ông tiết lộ với một người bạn đồng nghiệp : “Dù sao đi nữa sau suốt 25 năm phục vụ, tôi cũng leo đến bậc cuối cùng trước khi nghỉ hưu ở tuổi 55. Tranh dành, vùng vẩy, làm chi cho mệt ! Chỉ thêm đau lưng mà thôi !” Rồi họ cùng phá lên cười … (Ảnh LĐ. Loan, 55 tưổi)

            Tuy nhiên, lòng mong muốn giúp ích và làm điều phúc đức cho mọi người, giống như cha của ông, đã đem đến cho ông một vài sự kiện bất ngờ. Một ngày nọ có hai người dân làng Phú Xuân, quê ông, đến nhà ông cầu xin được giúp đỡ. Những tín đồ công giáo ở Kim Long dưới sự hậu thuẫn của linh mục Pháp, đang tìm cách lấn chiếm ruộng đất của những người này bằng cách cố tình lấn sang ranh giới phần đất của họ.           

          Vì vậy, cậu bé Nguyên, lúc đó chừng mười hai tuổi, ngồi bên chiếc bàn lớn trước hai con người khốn khổ ấy, cầm ngòi bút sắt nhúng vào chai mực và bắt đầu viết theo lời đọc và chỉ dẫn của cha : “Monsieur le Résident Supérieur de l’Annam” (Kính gửi ngài Khâm sứ An Nam…)

            Và cảnh tượng ấy không chỉ diễn ra một lần. Nhìn những người dân làng mang quà cáp đến biếu cha, Nguyên đoán rằng lá đơn khiếu nại đã có kết quả. Nguyên nhớ có một lần uống hết nửa chai rượu sâm banh của cha mà chẳng cảm nhận được mùi vị ngon lành gì, chỉ thấy người hơi chếnh choáng…

            Vào thời điểm đó, ở tòa Khâm Sứ đã diễn ra một cuộc điều tra kín đáo. Một trong những người đồng nghiệp đã cảnh báo với bố của Nguyễn : “Họ nó rằng : Những lá đơn ấy  chắc là do ông Loan”.

            Do đó, cha của Nguyên bị thuyên chuyển sang công tác ờ Sở Liêm phóng Annam mà trụ sở chỉ cách tòa Khâm Sứ có hai bước chân. Ông « chánh mật thám »  tên là Léon Sogny bổ nhiệm cha Nguyên vào chức Trưởng phòng kế toán (Có thể chính ông này đã bị ông nội Nguyên « lung lay » đôi bàn tay với những chiếc móng dài).

            Những người bạn đồng nghiệp cũ nói rằng ông còn may mắn lắm, vì rất có thể ông sẽ bị thuyên chuyển đến một nơi cách xa Huế, vào một tòa công sứ tỉnh ! Nguyên thầm nghĩ những người ấy nói đùa : tại sao một người bị trừng phạt vì tranh đấu cho công lý ? Trái lại, cha của anh lại lấy làm hài lòng vì đã tránh xa được tên chánh văn phòng tòa Sứ mà ông chẳng chịu đựng được. 

            Nguyên chưa bao giờ thấy cha chơi bóng đá. Nhưng một ngày hè chủ nhật, lúc anh tầm 6 tuổi, được cha dẫn đến sân bóng. Vừa thấy ông, tức khắc một số đông cầu thủ hay khán giả bu kín đón chào nồng nhiệt. Vô cùng ngạc nhiên, Nguyên được biết rằng cha anh là Chủ tịch câu lạc bộ bóng đá khu Vỹ Dạ. Ông nói với Nguyên là ông nhận trách nhiệm này vì muốn giúp ích khi họ mời ông. Nguyên rất thích thú vì anh em Nguyên được ưu tiên ngồi những ghế tốt nhất. 

            Cũng vào thời đó, môn thể thao yêu thích của ông là đi săn thú dữ. Thỉnh thoảng vào cuối tuần, giữa đêm lại nghe tiếng còi xe kéo dài khiến Nguyễn thức giấc, và một giọng nói vang lên : “A lô A lô, Loan, đã sẵn sàng chưa?”. Đó là bạn đi săn của bố Nguyên, ông Georgin, viên thanh tra của Sở Liêm Phóng, đã đỗ xe Jeep ngay giữa sân chờ ông. Tuy nhiên, theo tín ngưởng phật giáo, ông nội và mẹ Nguyên không muốn giết hại những con vật vô tội. Cha của Nguyên đành phải từ bỏ thói ham mê ấy, và đành phải xếp lại trong một xó khẩu súng hai lòng mua ở tại sainte-Etienne bên Pháp.

            May thay, ông còn có nhiều thú vui khác : Đọc sách, cùng bạn hữu làm thơ, nghe nhạc và những bài hát cổ truyền. Ông cũng đã từng thử học chơi một loại nhạc cụ. Nhưng ông nhanh chóng bỏ cuộc vì thực ra ông thích đọc sách và làm thơ hơn. Mùa hè nào cũng vậy, ông củng dựng một cái «nhà nghỉ mát » nhỏ, ngay bên bờ sông Hương. Đó là nơi ông gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, nhất là tối thứ Bảy. Nhiều khi Nguyên giả đò ngủ say nhưng kỳ thực là thích thú nghe lỏm câu chuyện giữa họ, vì không chỉ có chuyện phiếm, mà qua đó Nguyên còn biết được nhiều bình luận về thế giới lớn, và về cuộc sống nói chung.

            Chính vì vậy mà Nguyên cũng được biết nhiều về quan điểm chính trị của họ. Là những người theo chủ nghĩa dân tộc ôn hòa, họ ngưỡng mộ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,… những người đều đã từng bị Pháp bỏ tù. Thỉnh thoảng anh còn nghe họ bàn cải về Hitler hay Pétain, … 

            Đôi khi họ cũng thương hại cho các quan lại Nam triều, thường mơ ước địa vị của các viên chức Bảo hộ. Phòng kiểm duyệt báo chí của toà Khâm sứ đã bỏ quên một bài thơ châm biếm những vị này.

            Vào dịp Tết Nguyên đán, cứ đến ngày cuối cùng của năm là dân gian làm lễ cúng ông Táo, vật được làm từ ba viên đất nung dùng để kê nồi nấu cơm hoặc nấu các món ăn khác. Phong tục Việt Nam coi ông Táo là một vật thờ cúng, vì theo họ, ngày lể Giao thừa, ông Táo sẽ bay lên chầu trời và kể lại cho Ngọc Hoàng thượng đế nghe mọi chuyện xảy ra trong nhà ở dưới trần gian trong suốt một năm vừa qua. Do đó họ ý niệm là cần phải cúng nhiều đồ đút lót để ông Táo nói tốt cho mình. 

            Kê đó, một độc giả vô danh đã gửi một bài thơ lên báo « Tiếng dân » của cụ Hùynh Thúc Kháng, một tờ báo lớn của thủ đô cũng như của cả nước, bài thơ có nội dung như sau :

            « Chỉ là cục đất bắt nên Ông,
            Ngất ngưỡng làm chi cỏi Á Đông.
            Nồi gạo gập gình ngày sợ hỏng,
            Hơi đồng liếm láp bửa ngồi trông.
            Oai quyền trong xó vui chi đó,
            Đè nén trên đầu có biết không ! ».

            Nguyên từng có dịp gặp lại người bạn đi săn cũ của bố anh. Năm 1941, lần đấu khi đi xin giấy thông hành, anh đến Sở Liêm phóng, cha của anh dẫn anh vào phòng cấp giấy. Bất ngờ ông Georgin xuất hiện, cha anh giới thiệu «  Đây là con trai tôi ! » Viên thanh tra tươi cười bắt tay Nguyễn nói : «  Xin chào chàng trai trẻ ! Cháu làm nghề gì ? » Nguyên trả lời rằng anh đang làm nghề giáo. « Cháu không thích theo nghề của cha ? » - Ông vừa cười vừa nói thêm : « Những thầy giáo sẽ trở thành nhà cách mạng sau này. » Nguyên bối rối biện bạch : « Cháu sẽ không thuộc vào số ấy ». (Nguyên không ngờ rằng 6 năm sau, chính ông là ân nhân cứu anh vào năm 1947, khi anh bị quân đội viễn chinh Pháp ở Ba mê thuột bắt làm tù binh chiến tranh !).

            Nguyên nóng lòng mong chờ từng mùa hè đến. Ba tháng nghỉ hè từ ngày 15 tháng 7 đến 15 tháng 9 là những kỳ nghỉ hè thực sự. Nguyên cùng với các anh chị em họ vui sống trong « nhà nghỉ mát » lợp tranh ở giửa ba hố sen. Với một chiếc thuyền nhỏ do một người bạn của bố để lại, họ bơi theo dọc bờ sông Hương. Một cậu anh họ còn mang đến một chiếc thuyền « pê-ri-xoa » dài có 2 chỗ ngồi, đậu ở dưới vòm cây đa râm mát. Là đồng nghiệp cùng làm việc với bố của Nguyên, anh ấy thường chỉ đến vào cuối ngày hoặc chủ nhật và giao cho Nguyễn trông coi chiếc thuyền. Nguyên tận dụng ngay cơ hội đó để đưa chị họ hoặc thậm chí là các bạn của chị ấy dạo chơi. Là thư ký trẻ, Nguyễn Tấn Quê lớn hơn Nguyên ít nhất 6 tuổi nhưng đối với Nguyên anh ấy hơn cả một người bạn. Nguyên coi anh ấy như một người anh lớn, một người thầy, không chỉ là vì anh ấy giúp Nguyên đánh « cờ tướng » tiến bộ hơn, giúp Nguyên có được những kiến thức căn bản mà ở trường không lớp nào giảng dạy, giúp Nguyên có một tầm nhìn rộng cởi mở hơn về thế giới, về chính trị quốc gia cũng như quốc tế. Thêm nửa, Nguyên cũng rất mê mang đọc những cuốn truyện của Alexandre Dumas và những cuốn tiểu thuyết trinh thám khác mà anh cho Nguyên mượn.

            Nhưng hạnh phúc bình lặng ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Thế cục xoay vần, chiến tranh châu Âu lan đến tận viễn đông. Nhật đe dọa Đông Dương. Năm 1940, đầu tiên chúng cử sang những người gọi là « Kiểm soát viên ». Sau đó, ngày 18 tháng 1 năm 1942, quân Nhật ký với Hitler và Mussolini một hiệp ước quân sự trong đó dự báo sẽ cắt đôi châu Á thành Đế quốc Mặt trời mọc và Tây Phương (Giấc mơ một « Đại Đông Á »).

             Tháng 7 năm 1944, Sở Liêm phóng Huế tiến hành theo dõi các nhân vật thuộc phong trào chính trị chống Pháp và có ý định bắt giữ Ngô Đình Diệm. Chính cha của Nguyên là người đã ngăn chặn âm mưu này. Ông Lacombe, Giám đốc Sở Liêm phóng Đông Dương ở Hà Nội, đã đóng vai trò đặc biệt trong việc tham gia chỉ đạo vụ này. Một ngày nọ, viên thanh tra Georgin, người bạn đi săn cũ của bố anh ấy nói với ông rằng : « Loan ơi, ngày mai chúng ta cần có giấy đi đường cho tôi và lái xe của tôi đến Tchepone » (Một địa phương của Lào giáp biên giới tỉnh Quảng Trị ). Điều này ngay lập tức khiến ông nghi ngờ : « Lần trước đã đi bắt giam nhà yêu nước Phan Thúc Ngô. Lần này có lẽ đến lượt người còn lại là Ngô Đình Diệm đang cư ngụ tại Kim Long ». Ông liến nói với Nguyễn Tấn Quê, người mưu sỉ của Ngô Đình Diệm để báo tin gấp cho ông ấy biết. Ngay trong đêm đó, Ngô Đình Diệm cải trang thành một "bà xơ" trốn đến nhà Ikeda, lãnh sự Nhật tại Huế và ông này đã bí mật đưa Ngô Đình Diệm vào Sài Gòn. Trong suốt những năm qua không ai được biết rỏ về tình tiết này. Một số người tin rằng nếu như Ngô Đình Diệm có thể trốn thoát được chính là nhờ Nguyễn Tấn Quê (Người bạn lớn của Nguyên). Nhưng cha anh không hề cải chính mà giữ riêng bí mật ấy cho mình. (Hơn 35 năm sau, vào khoảng năm 1980, một người bạn của cha anh tên là ong Đinh Hữu Uyên lúc đó đang tị nạn ở Paris mới cho Nguyên biết rỏ chuyện đó. Trong một lần thăm viếng, ông đã kể cho anh nghe đầu đuôi câu chuyện.)

            Cuối cùng, vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, người Pháp rút quân, người Nhật lại tấn công vũ trang vào Đông dương.

           Tại Huế, Đại sứ Nhật tại Đông Dương Yokoyama đến trình diện vua Bảo Đại và trình bày đại khái rằng : « Nước Việt Nam được giải phóng khỏi quân Pháp là nhờ có quân đội Thiên triều. Nước Nhật sẵn sàng công nhận độc lập của Việt Nam. Nếu như nhà vua mong muốn, ông ta có thể giúp ông làm Đại cố vấn. Nhưng trước tiên cần phải tuyên bố độc lập trước toàn thể nhân dân cũng như toàn thế giới. ». Tuyên ngôn độc lập ký sau đó được công bố vào ngày 14 tháng 3 năm 1945.

            Một chính phủ được thành lập vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng đầu là Trần Trọng Kim, một cựu nhà giáo và nhà sử học.

            Nguyên cũng không biết đó có phải là trò đùa của số phận hay không nhưng chính bố của anh là người mà Trần Trọng Kim chọn làm Thư ký đặc biệt. Anh rất đỗi ngạc nhiên vì gia đình anh không hề có quan hệ gì với tân thủ tướng. « Tại sao lại chọn lựa cha tôi ? – Nguyên tự hỏi. Vì đó là một chức vụ tín nhiệm chỉ được giao cho người thân cận mà thôi. » (Ba mươi lăm năm sau Nguyên nhắc lại câu hỏi đó với một người bạn của cha anh, ông Đinh Hữu Uyên vào khoảng năm 1980. Ông này nói với anh rằng : « Tân thủ tướng muốn tìm một người hiểu rõ tình hình và hoàn cảnh của Triều đình Huế lúc đó, một người thông minh và nhất là thực sự đáng tin cậy »). 

            Độ 4 tháng sau, vào tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng, chính quyền sụp đổ, vua Bảo Đại thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945, nộp lại ấn tín Nhà vua cho ũy ban « Việt Nam Độc lập đồng minh » (Việt Minh).

  

                        

                                                                                       Lể trao ấn kiếm

             Quân đồng minh Trung Quốc ở phía Bắc và Anh quốc ở miền Nam tiến vào Đông Dương nhằm giải trừ vũ khí quân Nhật. Quân Pháp nhờ có sự hậu thuẫn của quân Anh, đặt chân lại Sài Gòn vào tháng 9 năm 1945. Phong trào đấu tranh tự vệ nổ ra ở Huế. Mặc dù đã trải qua khoảng thời gian 4 tháng tập luyện tại Trường dự bị quân sự, núp dưới tên Trường Thanh niên tiền tuyến, phần lớn thầy và trò hướng đạo sinh đều tình nguyện đăng ký tham gia vào Giải phóng quân và tạo nên nòng cốt tiên phong quan trọng.

            (Trường Thanh niên tiền tuyến do Bộ trưởng bộ Thanh niên, Phan Anh thành lập. Tạ Quang Bửu, Ủy viên Hướng đạo sinh quốc gia, đóng vai trò cố vấn, dưới sự chỉ đạo của Phan Tữ Lăng, cựu sĩ quan Pháp, được chọn để đánh lừa quân Nhật. Là những người yêu nước, họ nhanh chóng thành lập đội ngũ các cán bộ sĩ quan mang trong mình lòng căm thù quân xâm lược. Họ giương cao khẩu hiệu và luôn sẵn sàng chiến đấu. Về mặt lý thuyết, họ được đào tạo bán quân sự, chỉ kém sử dụng thành thạo các loại vũ khí. Bốn tháng là khoảng thời gian tối thiểu cần thiết để tập luyện, và còn lại sẽ được học trực tiếp trên chiến trường. Sau cuộc chiến kéo dài suốt 30 năm từ 1945 đến 1975 chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một số trong số đó đã hy sinh thân mình vì tổ quốc, số còn lại sau này cũng trở thành những sĩ quan cao cấp hay các vị tướng trong quân đội).

            Năm 1945, cha Nguyên lần lượt chứng kiến 4 trong số 5 người con đầu của ông gia nhập Quân giải phóng. Người con thứ 5, Lê Đình Việt ở Huế bắt đầu tham gia quân ngũ dưới sự chỉ huy của Hà Văn Lâu (Người sau này gửi ông đi học trường sĩ quan ở Trung Quốc và Liên bang Xô Viết) ; người con thứ tư, Lê Đình Quyền, cựu hướng đạo sinh, lên đường vào Nam đánh giặc và hy sinh sau đó vài tháng, dưới làn đạn của quân Pháp tại Nha Trang ; người con thứ hai Lê Đình Khôi được gửi đi học trường quân sự Sơn Tây ở ngoài Bắc ; người anh lớn Lê Đình Tuế vốn là thầy giáo ở Đồng Hới (Quảng Bình) và huynh trưởng hướng đạo sinh, sau khi vòng qua Hà Nội, Nam Định và Hải Phòng, trở lại Tuy Hòa (Phú Yên) để tiếp tục hoạt động trong Giải phóng quân.

            Quân Pháp tiến gần từ phía Nha Trang, Nguyên theo đơn vị di chuyển đến Củng Sơn, cách 11 cây số về phía Tây, nơi mà vào mùa thu năm 1947, anh đi công tác vượt 400 cây số băng qua dãy Trường Sơn vào Tây Nguyên.

            Năm 1946, dưới chính quyền lâm thời An Nam (Dưới sự bảo hộ của Pháp), do Trần Văn Lý đứng đầu, cha của Nguyên được chọn giữ chức Giám đốc Ngân khố, một chức vụ tín nhiệm (Mà ông không hề biết mình đang quản lý nguồn tiền Mỹ rót cho Pháp trong gói viện trợ Marshall !)

            Vào đầu năm 1948, ông nhận được điện khẩn về người con đầu, do một viên sĩ quan phiên dịch của Đội quân viễn chinh Pháp chuyển đến, trong đó thông báo rằng Nguyên bị bắt giam tại Buôn Mê Thuật ( Vùng Cao nguyên, nằm ở phía tây tỉnh Phú Yên) từ tháng 8 năm 1947. Nhờ sự can thiệp của ông Thủ hiến Trấn văn Lý và người bạn đi săn Georgin, lúc đó đả trở về giữ chức Giám đốc sở Liêm phóng, Nguyên được thả vào tháng 2 năm 1948. Sau một năm rưỡi làm việc tại Bộ quốc gia giáo dục, dưới quyền ông Ưng Quả, anh được xuất ngoại sang Pháp vào tháng 8 năm 1949.

            Năm 1950, cha của Nguyên nghỉ hưu vào năm 55 tuổi.

            Tuy dẵ rời xa chính trường nhưng ông vẫn còn tham gia vào phong trào chống nạn "mù chữ"  để giúp đỡ những người trưởng thành, và người cao tuổi học đọc và viết (Phong trào Bình dân học vụ). Một thời gian sau, với mong muốn giúp đỡ những người mẹ trẻ, ông kêu gọi các cá nhân quyên góp tiền của xây dựng những khu nhà hộ sinh ở những miền quê hẻo lánh xa thành thị. Ông qua đời vào đầu năm 1971, hưởng thọ 75 tuổi, khi chiến tranh vẫn còn chưa kết thúc. Rất đông người đến dự đám tang ông tại Huế, đặc biệt là các tăng ni phật tử và cả những phái đoàn Công giáo.

            Mấy chục năm sau, khi Nguyên chuyện trò với một trong số các anh em trai về cuộc đời của cha mình, anh này nói với anh rằng chẳng có gì đặc biệt cả : Đó chỉ là đời sống vô sự an nhàn của một vị quan hưu chẳng có sóng gió gì đáng kể. Lẻ đương nhiên em trai anh chẳng hiểu gì cả, nhưng Nguyên vẫn thấy buồn buồn vì điều đó. Và cậu ấy cũng có thể sẽ nói như thế về ông nội, người luôn sống để làm phúc cho mọi người, và tích đức cho con cháu về sau.  (Gặp ông em LD.Việt ơ sân bay Nội Bài (Hà nội) sau 46 năm xa cách (Ảnh bên trái). 

            Cha của anh thực ra cũng đã cố gắng tiếp bước ông nội làm việc thiện. Việc ông cứu Ngô Đình Diệm khỏi tay người Pháp là xấu hay tốt ? Miền Nam Việt Nam có thể tồn tại mà không có Ngô Đình Diệm ? Người Mỹ cũng có thể tìm ra một con bài hay một con tốt khác, giống như người Pháp đã làm với Bảo Đại. Cha của Nguyễn không suy tính xa xôi, ông đương nhiên chỉ muốn làm một việc nghĩa mà thôi !

            Ông không hề biết trước rằng việc làm tự nhiên ấy sau này lại ảnh hưởng đến số phận của ba người con ông. 

 
            L.D.T. 
            Mùa xuân 2005
 

            Kính gởi Cha và Ông tôi tấm ảnh :   

    

                                      Cuộc đời sắc sắc không không 
                                      Chỉ còn lưu lại tấm lòng từ bi.

                      Tiếp theo : 2.- Gia tôc LÊ-DINH ( 3.- CHA TÔI, NGƯỜI CHƯ ĐƯỢC THẤU HIỂU … )