2.- Gia tôc LÊ-DÌNH

            “Phủ nhận quá khứ là đoạn tuyệt. Đương đầu với nó bằng cách vượt qua nó chính là tạo ra vận mệnh từ định mệnh.”   Marcel  Mélançon

            Một việc làm nhân đạo của người cha có thể ít nhiều ảnh hưởng đến số phận của con cái, dù chúng không hề hay biết điều đó.

            Khi giúp đỡ một vị đại quan, cha của Nguyên cũng không hề tính đến tương lai các con ông sẽ được hưởng lợi gì, nhưng thực tế, khi Ngô Đình Diệm trở thành tổng thống đã không
quên món nợ ơn nghĩa đối với ân nhân của mình.

            Ảnh bên cạnh : Lê Đình Loan (1895-1971) năm 1950, vào năm 55 tuổi khi về hưu trí.           

            Người ta có thể đoán trước được số phận vì con người có quyền chọn lựa, nhưng vận mệnh có những ngã rẽ khác nhau mà không ai lường trước được. Những cuộc gặp gỡ tình cờ hay những mối quan hệ ngẫu nhiên có thể dẫn đến thiên đường nhưng cũng có thể đưa về địa ngục. Các nhà sử học có khi chỉ nhìn thấy cái phiến diện bề ngoài và tự do cho quyền sáng tạo thêm, nghĩa là viết lại lịch sử theo những cách diễn đạt chủ quan của mình.

             Một trong số họ quả quyết rằng nếu như đức Hồng y giáo chủ Spellman không kết bằng hữu với đức Tổng giám mục Ngô Đình Thục thì số phận Việt Nam có thể đi về phiá khác. Chỉ toàn những lời đồn đoán sáo rỗng. Nếu như em trai thứ ông, cụ Ngô Đình Diệm, không trở thành Tổng thống miền Nam Việt Nam thì trong trận chiến trên chính trường, Mỹ quốc cũng sẽ tìm một con "tốt" khác thế chỗ mà thôi. Thói thường, trên bàn cờ vũ đài thế giới, con "tốt" hay bị đẩy lên trước và sớm hay muộn cũng sẽ thành kẻ đầu tiên bị "thí". 

            Sinh năm 1901 tại Huế, sự nghiệp làm quan đưa ông lên đến ghế Thủ tướng. Ông không thiếu thông minh và có tiếng là quan thanh liêm. Tuy nhiên những người có tư tưởng chính trị đối lập đã biến ông thành một kẻ khờ khạo và hèn yếu, bởi vì ông không thể tách ra khỏi người em trai Ngô Đình Nhu cũng như người em dâu Trần Lệ Xuân, biệt danh là bà Nhu. Không chỉ là một vấn đề đảng phái có thể dễ dàng giải quyết. Ba người đó tạo thành một hình tam giác cho nên nếu như khuyết đi bất cứ cạnh nào thì tất cả chỉ còn là một đường thẳng vô nghĩa.

             Vả lại, dưới góc nhìn của một nhà nho, cũng như trong suốt sự nghiệp cầm quyền của mình, Ngô Đình Diệm không thể hay nói đúng hơn là không muốn tách rẽ những người thân trong gia đình, đó điều mà hết thảy các đại sứ Hoa Kỳ, các bộ trưởng, các tưỡng lĩnh và những người cùng đảng phái đều muốn ép ông làm.

            "Gia đình tôi và tôi, hoặc giữ hết, hoặc bỏ hết",  dường như ông muốn nói điều đó với nước Mỹ cũng như với chính đất nước ông, sau khi thấy được những bê bối gia đình, thất bại trên mặt trận quân sự (Ấp chiến lược) và nhất là trên chính trường (Với các phật tử). Tất cả đè nặng lên vai ông, mang trong mình một sứ mệnh, một nhiệm vụ to lớn mà một quốc gia giao phó, nhưng Ngô Đình Diệm dường như trung thành với bản thân mình hơn là với dân tộc. Ông bị  ám sát cùng với em trai, một ngày sau cuộc đảo chính ngày mồng 1 tháng 11 năm 1963.      

            Năm 1980, sau vài lần đến Paris thăm người bạn của cha, ông Đinh Hữu Uyên đã làm sàng tỏ cho Nguyên một vài điểm chưa từng được lý giải liên quan đến những điều bất ngờ trong sự nghiệp của anh ở miền Nam Việt Nam, từ năm 1956 đến 1959, dưới chính quyền tổng  thống Ngô Đình Diệm.
            Sau khi tốt nghiệp thêm ba môn tâm lý học đại cương, tâm lý học lâm sàng và khoa Hướng  nghiệp tại Đại học Genève, với bằng cử nhân Nguyên được học bổng tu nghiệp của UNESCO về ngành thống kê giáo dục, với một lời cam kết rằng 6 tháng sau sẽ về phục vụ công tác cho Chính phủ miền Nam Việt Nam ít nhất là 2 năm.

           Đối với anh, trở về quê hương thực sự là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Vì lúc ấy Việt Nam đang bị chia cắt ra 2 miền Nam Bắc trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, miền Bắc dưới sự hỗ trợ của Trung Quốc và Liên Xô, còn miền nam dưới sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ và Pháp. Sự đối đầu giữa lực lượng cách mạng và chính quyền cũ dường như vô cùng căng thẳng. Nguyên dự định ở bên đó cho đến khi hết cam kết với UNESCO, và sau đó trở về quê vợ ở Thụy Sĩ. 
            Khoảng cuối năm 1956, Nguyên về Sài Gòn cùng với vợ và đứa con đầu lòng. Vốn biết rằng tình hình chính trị đang rất nhạy cảm, nên Nguyên luôn chú ý hạn chế tiếp xúc cũng như tránh những cuộc gặp mang tính chất chính trị, mà chỉ sống một cách bình thường.

            Bộ trưởng Bộ Giáo dục quốc gia Nguyễn Dương Đôn (Ảnh bên phải) thầy học ngày xưa, vốn là cựu giáo viên môn Toán ở trường cấp ba Khải Định. Ngay lần gặp đầu tiên, ông nói với Nguyên rằng : "Tôi chỉ có chức vụ Chủ sự phòng "Giáo dục đại học" dành cho ông thôi. »  Nguyên trả lời : « Vâng, thế cũng là tốt lắm rồi, tôi cũng không có  nhiều tham vọng, kính thưa Bộ trưởng » 

            Sau đó anh bắt tay ngay vào làm việc và học cách soạn thảo những văn bản bằng tiếng Việt, vì sau suốt 6 năm xa quê hương, anh dường như đã mất thói quen về các từ ngữ. Sau vài tháng anh đã viết rất hay, và những công văn của anh thảo được lấy làm mẫu cho các văn phòng bộ trưởng khác.

            Với mục đích điều tra danh sách tất cả các trường học, số lượng học sinh và giáo viên, anh đã sáng lập ra Sở Thống kê miền Nam Việt Nam, cùng với bà Đặng Phúc Đỉnh, tốt nghiệp trường Thống kê ở Paris.

           Sáu tháng sau, năm 1957, một  buổi sáng Nguyên vừa đến văn phòng làm việc thì ông Bộ trưởng gọi đến có vẻ vui cười : "Tôi tin ông Tuế biết : từ hôm nay ông được bổ nhiệm vào chức "Chánh sự vụ Sở Pháp chế và Kế hoạch". Rất đổi ngạc nhiên, vì biết là một công sở quan trọng nhất của Bộ. Đáng lẻ phải cám ơn ngay ông thây củ, Nguyên cau mày hỏi lại : "Tại sao lại chọn tôi, Kính thưa ông Bộ trưởng ?. Tôi chẳng hiểu chi về luật lệ và pháp chế, tôi chuyên môn về khoa tâm lý,  không thông thạo về pháp lý !" Nghiêm nghị, ông Bộ trưởng kết thúc : "Đó là lệnh trên, anh phải chấp nhận !".

           Tuy nhiên, Nguyên (Ảnh bên trái  năm 1957) rất băn  khoăn về chuyện tiến cử cũa mình. Anh chẳng quen biết ai cao cấp trong bộ máy chính quyền, chưa hề gặp mặt vị tổng thống, cũng chẳng quen biết người em của tổng thống (ông Ngô Đình Nhu), người đang nắm nhiều quyền lực trong tay. Anh không muốn nhuốm mình vào địa hạt chính trị.

           Sau đó có một viên chức quen biết nói nhỏ với anh rằng người tiền nhiệm của anh bị cất chức là vì ông ấy thuộc hội Tam điểm (!) và là người Bắc kỳ (!). Những lời lẽ đó chẳng mảy may thuyết phục được Nguyên. Vả lại, Nguyên cũng không phải thành viên của phong trào Cần Lao Nhân Vị, một dạng nhân cách chủ nghĩa theo tư tưỡng cũa Emmanuel Mounier, do Ngô Đình Nhu sáng lập.

            Nguyên còn nhớ một chuyện rắc rối nhỏ khi anh nhận một thùng bưu kiện chứa nhiều sách của anh, sau khi tu nghiệp, đã nhờ UNESCO gửi đến địa chỉ của anh ở Sài Gòn. Khi đến nhận, thùng bưu kiện đã bị mở kiểm duyệt từ trước. Không thiếu một cuốn sách nào trừ cuốn   "L'Existentialisme est un humanisme" (Thuyết hiện sinh là một chủ nghĩa nhân đạo) của Jean Paul Sartre. Nguyên tự nhủ "Chuyện này, rất có thể có bàn tay mật vụ của Nhu nhúng vào… "

           Trong khoảng thời gian đó Nguyễn có 2 lần được xuất ngoại : Đi Thái Lan và Paris để tham dự 2 cuộc hội thảo quốc tế của UNESCO. Vợ anh là giáo viên tiếng Anh và tiếng Đức tại trường Đại học kỹ thuật quốc gia và Khoa ngữ văn trường Đại học Sài Gòn. Nhưng vì không chịu được khí hậu nhiệt đới gió mùa, cô bắt đầu gầy yếu đi và muốn trở về Thụy Sĩ.

           Và cơ hội đầu tiên đến với Nguyên khi bộ trưởng của anh là ông Nguyên Dương Đôn đồng ý cho anh tháp tùng ông khi ông được cử làm đại sứ tại Rome (Italie). Nhưng viên tân bộ trưởng, người công giáo, Trần Hữu Thế lại ngăn cản. Là Tiến sĩ Khoa học tại trường đại học Grenoble – Pháp, ông tỏ ra thông cảm với Nguyên : « Tôi rất cần anh ở đây với chúng tôi ».  Sau đó ông ta nói rằng sẽ đề nghị ông Ngô Đình Nhu cử anh làm Đổng lý văn phòng của Bộ. Nguyên từ chối : " Đó là một chức vụ chính trị, và tôi chỉ muốn làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật mà thôi.  Mặt khác, tôi đoán rằng ông Nhu sẽ không đồng ý". Ông Bộ trưởng trả lời : "Dù sao tôi cũng cố gắng xem." 

           Vài ngày sau đó bộ trưởng thông báo rằng chuyện đó không được chấp thuận. Nguyên tò mò hỏi : « -  Cố vấn tổng thống có đưa ra lý do gì không ? – Rằng anh còn quá trẻ so với vị trí đó." Im lặng vài dây, tôi hỏi : " - Tôi có thể biết ngày sinh của ông không ?  – Tất nhiên !, ngày mồng 1 tháng 5 năm 1922. – Vậy thì, Nguyên vừa nói vừa cười, ông lớn hơn tôi chỉ có 5 ngày, vì tôi sinh ngày mồng 6 tháng 5 cùng năm . Tôi nói điều này cho vui thôi, vì thực ra tôi đâu có thích chính trị ». Và sau đó bộ trưởng bổ nhiệm anh làm Công cán ủy viên.

            Nguyên tự hỏi không biết Bộ sẻ giao cho mình nhiệm vụ nào ?  Cập đến một ngày tháng 7 năm 1958, ông Bộ trưởng Trần Hữu Thế cho mời anh lên văn phòng và chỉ ghế ngối. Trước mặt anh là đức Tổng giám mục Ngô Đình Thục (Ảnh bên trái). Anh cả Tổng thống muốn tìm một người để  tổ chức lại trường Đại học Đà Lạt và hỏi liệu anh có muốn nhận chức Tổng thư ký và kiêm chức Giáo sư tâm lý học không ? Nguyên vô cùng ngạc nhiên, nhưng anh vui vẻ chấp thuận. 

            Trở về nhà, anh vẫn ngỡ mình đang còn ờ trong giấc mơ. Anh reo lên với vợ : « Chúng ta sẽ lên ở Đà Lạt, nơi khí hậu mát mẻ sẽ giúp em khỏe lại, vì suốt ngày em kêu rằng em quá mệt mỏi nếu như sống mãi Sài Gòn. Thật là kỳ diệu ! Tại sao đức giám mục lại nghĩ đến anh ? Anh đâu có theo đạo thiên chúa và trước đây anh cũng không quen biết đức ông ! ».

           Để có dịp làm quen cũng như muốn đánh giá về anh, ông bộ trưởng dẫn anh về Vĩnh Long gặp đức Giám mục, nhân dịp một buổi lể sinh nhật rất lớn có nhiều người tham dự. Nguyên không được biết trước điều này nên không có dịp chuẩn bị trước quà cáp gì, nhưng khi đứng trước vị giám mục vừa chìa tay ra, anh quỳ xuống nắm lấy và hôn lên chiếc nhẫn của ngài, điều đó còn gây được nhiều thiện cảm cho chủ bữa lể hơn bất kỳ món quà quý giá nào.           

            Với Nguyên, đó không phải là một sự phục tùng, mà là một cử chỉ lịch thiệp trước vị Tổng giám mục mà thôi. (Anh học được nghi thức này vào năm 1946, khi anh cùng với ông Vũ Trọng Hoàng, hai anh em huynh trưởng Hướng đạo cùng với hai đoàn hướng đạo sinh từ Nam Định xuống thăm toà giám mục ở Phát Diệm. Đức cha Lê Hữu Từ, cũng có một đoàn hướng đạo sinh thiên chúa giáo). Anh muốn bắt chước người bạn lớn của mình làm theo cử chỉ ấy khi nhớ lại cách chào anh ấy có vẻ thanh nhã làm sao ! Vả lại, ông nội anh vẫn luôn nhắc nhở anh một điều  « Nhập gia tùy tục ». 

            Nguyên và gia đình di chuyển lên Đà Lạt sống trong một căn nhà gạch (villa) của trường đại học (Ảnh bên trái) cùng với một chiếc xe công vụ và một tài xế riêng. Anh cảm thấy hài lòng, thậm chí quá hài lòng. Anh cùng lúcđược hưởng liền 3 lương bổng : lương uỷ viên công cán Bộ Giáo dục, lương Tổng thư ký và lương giáo sư tâm lý học ở trường Đại học Đà Lạt. Thêm vào đó, vợ anh cũng lảm giáo viên dạy tiếng Anh. Mặt khác hai vợ chồng cũng vẫn giử ngôi nhà được cấp ở Sài Gòn.

            Cũng chính vì thế mà Nguyên lo ngại sự ghen tị của các đồng nghiệp. Thực vậy, một ngày nọ khi vị bộ trưởng cũ đi làm đại sứ ở Rome, người kế nhiệm ông Trần Hữu Thế đến nhà Nguyên, mà không báo trước, khi Nguyên đang làm việc ở Bộ. Ông ta gặp vợ anh khi cô ta ra mở cửa : « Tôi muốn xem căn nhà ở của bà, dường như  bà có tận 2 căn nhà lớn (2 appartements) ? » Vợ Nguyên dẫn ông ta đi thăm nhà. Ông ta nói : « Rút cục thì ông bà chỉ có 2 căn nhỏ (2 studios) liền nhau, có bếp trong phòng khách và phòng ngủ thế mà có người nói rằng ông bà có tận 2 căn nhà lớn. Cho nên tôi phải tận đến xem có đúng không ?. Xin bà thứ lỗi nếu có làm phiền ».

           Thực ra, Nguyên chỉ muốn sống một cách đơn giản, ẩn dậc. Trong khi những bạn du học sinh châu Âu khác khi trở lại Sài Gòn, việc đầu tiên là đi sắm một chiếc xe ô tô bóng loáng. Nguyên thì hoàn toàn hài lòng với chiếc xe "gắn máy" mà em trai cho mượn, chở vợ phía sau trên cái giá mang hành lý đi khắp thành phố. Anh định chỉ ở lại Nam phần 2 năm, sau khi hết hạn cam kết với UNESCO, sau đó trở qua Thụy Sĩ theo kế hoạch mà 2 vợ chồng anh đã định trước. 

          Ngược lại trong công việc, anh là người rất có ý thức và không thích để việc gì nhôi nhai. 

          Khi có việc cần giải quyết, anh lập tức gọi điện thọai hoặc trực tiếp gặp những người có liên quan, thuộc các ban Bộ khác để thảo luận tìm cách giải quyết hoặc đưa ra quyết định ngay, chứ không cần phải công văn qua lại tốn kém và mất thời gian vô ích. Một lần có một ông chủ dự án cố tình nhấn mạnh và nói cho anh biết rằng sáng kiến này là của bà Nhu. Nhưng Nguyên, sau khi nghiên cứu đã kết luận : « Thứ nhất, đây là một dự án vớ vẩn. Thứ nhì, không phãi là bà ấy, người bảo trợ cho ông, mà chính tôi, Chánh sự vụ Pháp chế và kế hoạch, sẽ chịu trách nhiệm về việc đó, nếu tôi đồng ý. ».  Nghe nói, chính sau việc này mà anh bị đẩy lên Đà Lạt. Nguyên cười thầm, tự nhủ rằng thực ra lên Đà Lạt đối với anh là một phần thưởng chứ chẳng phải một sự trừng phạt.

           "Dù sao thì thế này cũng đã là quá nhiều, tại sao cho mình hưởng nhiều lợi lộc như vậy?"  Nguyên hơi lo lắng. Anh bắt đầu bằng việc gởi trả người tài xế về Bộ, và tự mình lái xe công vụ. Anh chỉ nhận hai người thư ký do Bộ Gíáo dục gởi lên. Ông Viện trưởng đại học, Nguyễn Văn Thiện, một linh mục công giáo, để cho anh toàn quyền và đồng ý ký các văn kiện. 

            Ở Đà Lạt mưa rất nhiều, có khi suốt 4, 5 ngày liền. Chẳng có bất kỳ trò giải trí nào cả. Vợ anh và anh dả đọc gần hết những cuốn tiểu thuyết trinh thám trong thư viện nhỏ của Câu lạc bộ bơi thuyền Đà Lạt. (ảnh bên dưới : Ông Viện trưởng Nguyễn Văn Thiện cùng với Hồng y giáo chủ Agostino Casaroli, nhân chuyến thăm của ông đến trường Đại Học Đà Lạt – Mùa hè năm 1959).               

            Sức khỏe vợ anh đã khá dần lên nhưng cô bắt đầu thấy buồn chán. Một hôm ông Viện trưởng Nguyễn Văn Thiện được mời đến ăn tối ở nhà họ, trong khi đang cùng ăn món tráng miệng, ông nói : « Tôi ngưỡng mộ sự dũng cảm của bà, một phụ nữ Tây phương ở giữa chốn heo hút cách xa với mọi thứ này ! ». Nguyên không biết nên giải quyết chuyện này ra sao. Không một ai trong số những đồng nghiệp của anh từng du học châu Âu về có thể rời khỏi đất nước một khi đã trở về quê hương.

            Và cơ hội xuất hiện khi có 2 cán bộ ngoại giao Ca-nada (Phái đoàn thường trực Liên hợp quốc) đến thăm trường Đại học Đà Lạt, cho anh biết rằng có một dự án Colombo cấp những học bổng tu nghiệp cho các giáo sư viện đại học. Ngay lập tức Nguyên thấy rằng đây chính là cơ hội tốt để trở lại châu Âu. Nguyên liền kết thân ngay với hai vị cứu tinh từ trên trời rơi xuống và xin họ một học bổng cho giáo sư tâm lý học như anh. Sau vài tuần, anh nhận tin lá đơn xin được chấp nhận. Anh chỉ cần theo thủ tục đi kiểm tra sức khỏe trong một trại quân sự của phái đoàn Canada.  

            Ông bộ trưởng Trấn Hữu Thế rất ngạc nhiên về quyết định của Nguyên : "Sao vậy ? Anh ngồi chưa ấm đít mà đã đòi đi ! ". Cuối cùng ông cũng phải miễn cưỡng đồng ý, biết rằng Nguyên sẽ trở về sau một hoặc nhiều nhất là hai năm.

            Tháng 6 năm 1959,  Nguyên gửi vợ con sang Thụy Sĩ, lấy cớ về thăm nhà. Anh  dễ dàng xin được kiểm nhận và hộ chiếu cho cậu con trai tám tuổi.

             Nguyên sang Canada vào tháng 9 năm 1959 bằng máy bay qua Tokyo và cực Bắc, vợ  và con trai anh gặp anh tại Montreal vào tháng 11 năm đó. Tất cả không vấp phải một phản ứng nào từ phía Bộ Giáo dục quốc gia nơi thậm chí vẫn đều đặng chuyển lương sang Montreal cho anh và vẫn giữ cho anh căn nhà ở Sài Gòn, chỉ có một người làm việc cho anh ở đó để trông coi. 

             Nguyên cố tình kéo dài việc học để tìm cách bám trụ lại châu Âu, bởi vì ở quê hương anh chiến tranh ngày càng khốc liệt và tương lai dường như càng mù mịt hơn.

           Ở Đại học Montreal,  Trưởng khoa Tâm lý học, ông Adrien Pinard nói với Nguyên rằng  "Trước khi thi bằng Tiến sĩ chỉ cần học thêm vài bài giãng cử nhân cho đủ thủ tục thôi" trong khi Nguyên (Với ý định kéo dài thời gian tu nghiệp) muốn học toàn chương trình cử nhân của Đại học Montreal (Maîtrise de Psychologie). Sau đó, anh trình bày với ông Adrien Pinard, phụ trách hướng dẫn luận văn một đề tài, trong đó phê phán nhà tâm lý học Piaget, dù anh biết rõ ông người hâm mộ vô điều kiện bậc thầy Thụy sĩ này trong ngành tâm lý học. (Xem trang : Đồ án hư không !).

            Anh tận dụng dịp nghỉ hè để đi thực tập (Được trả công) tại Bệnh viện Sainte Justine ở Montréal, và bắt đầu nghiên cứu lại về Thiền tông để chuẩn bị cho một cuộc hội thảo nội bộ của trường.

            Sau đó vào tháng 9 năm 1961, Nguyên đáp chuyến bay qua Genève, trong khi vợ và con anh ấy đã đi trước bằng tàu thủy từ hồi tháng tám để về nghỉ hè ở Thụy Sĩ .Tất nhiên là anh nhận được thư khiển trách từ phía Chính phủ Canada vì việc rời Montreal mà không xin phép, trong khi anh được dự án Colombo cấp học bổng tu nghiệp trong khuôn khổ dự án với chính phủ Việt Nam.

             Ngay sau khi trở lại Thụy Sĩ, anh lại đăng ký theo học Tiến sỹ tại trường đại học Genève, và gửi về Sài Gòn một lá thư xin từ chức.  Tôn Thất Trạch, Giám đốc Công vụ trực thuộc Bộ Tổng thống yêu cầu ông phải quay trở về. Do đó Nguyên gởi thư nhờ sự giúp đỡ của Viện trưởng Đại học Huế Cao Văn Luận can thiệp cho anh trong chuyện này. Sau đó mọi chuyện cũng suôn sẻ. Anh quyết định ở lại Lausanne cùng với gia đình nhỏ của mình.

            Như vậy anh đã có thể rời Việt Nam vào năm 1959, khi mà Mỹ, với ý đồ mở rộng cuộc chiến tranh nên đã quyết định tìm một tổng thống khác thay chân Ngô Đình Diệm khi sân sau của Mỹ đang bị đe dọa bởi Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam và các đồng minh phía Bắc. Nguyên phải lựa chọn hai đường : ở lại quê nhà hay trở về Thụy Sỹ. 

            Người em thứ tư của Nguyên là Lê Đình Ấn, là nhà quay phim nhiếp ảnh được tổng thống Ngô Đình Diệm yêu chuộng. Anh ấy theo sát tổng thống như hình với bóng trên mỗi bước chân để quay phim. Em trai anh không học hành cao lắm nhưng lại thực sự là một chàng trai tài năng và tháo vát. Tuy nhiên, Nguyên vẫn lấy làm lạ về sự lựa chọn này của tổng thống bởi lẽ ông ta là người đa nghi, thường chỉ tin tưởng những người thân cận hay cùng phe phái mà thôi.

            Lúc còn ở Saigon, có dịp ông em thứ tư mời đi ăn cơm ở Chợ Lớn, Nguyên còn nhớ ông Ấn cho ăn thử lần đầu tiên thịt rắn hổ, và đùi ếch mà Nguyên chưa dám ăn ở Pháp. Trong khi ngồi ăn, ông ta thuật lại : "Trước khi làm việc với Tổng thống, em làm nhiếp ảnh cho quân đội Mỹ với cấp hạ sĩ quan, được chuyển qua Dinh Độc Lập. Có lần Cụ Diệm hỏi em có phải là con cụ Hường Lê Đình Loan không ? Làm răng Cụ được biết tông tích nhà mình ?". Nguyên cười và nói :"Rất dể hiểu ! Ai làm việc với nhà Ngô phải qua mật vụ của ông Nhu ; ông Cố vấn còn biết rỏ tất cả gia đình chúng mình, và quá khứ của anh nủa !" Ấn có vẻ ngạc nhiên. Bây giờ nghĩ lại, Nguyên mới hiểu rỏ lòng cãm tình giữa Ông Tổng thống và người nhiếp ảnh cũa Ông.

           Số phận của người em thứ 2 là Lê Đình Khôi cũng còn là một điều Nguyên còn trăn trở. Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp năm 1945, cả 3 người em trai đều xung phong vào Giải phóng quân Việt Nam. LĐ Khôi được gửi đi học ở trường quân sự Sơn Tây, do Hoàng Đạo Thúy chỉ huy, vốn là ủy viên hội Hướng đạo sinh miền bắc Việt Nam. Nguyên đã có dịp gặp ông em ở trường vỏ bị khi anh ra Hà Nội vào cuối năm 1945.

            Mười năm sau, khi anh cùng vợ con về Sài Gòn năm 1956, theo ký ước với UNESCO, chính LĐ Khôi (ảnh bên cạnh) là người tiếp đón, cho anh mượn nhà ở và xe gắn máy. Lúc đó anh ấy đang làm thư ký cho một công ty cao su của Pháp. Trước năm 1945, anh giử chức thừa phái luật sự trong chính phủ Nam Triều.             

            Vào một ngày năm 1958, người em LĐ Ấn nói với Nguyên rằng LĐ Khôi đã biến mất gần một tuần nay. Cuối cùng cha Nguyên cho biết rằng LĐ Khôi đã bị lực lượng an ninh của Chính quyền Sài gòn bắt giải ra Huế, sau đó bị giam trong gian chái của tòa Khâm Sứ miền Trung Việt Nam, lúc đó thuộc quyền cai trị của em trai tổng thống là Ngô Đình Cẩn. Chính người này đích thân đến tra hỏi tù binh. Một tháng sau, Nguyên lại được cha cho biết rằng em trai thứ hai của ông được bổ nhiệm làm Trưởng Ty an ninh quốc gia tại Đà Nẵng. Nguyên vô cùng bất ngờ trước thông tin này. Nguyên thừa biết rằng em trai ông vốn là một đứa con gương mẩu, hiếu thão và biết vâng lời nên rất có thể đã nghe lời cha chấp thuận làm việc cho chính quyền Sài Gòn. Được trả tự do, không phải ngồi tù đã là một may mắn phi thường rồi. Nhưng việc được thu nạp vào chính quyền một cựu sĩ quan miền Bắc Việt Nam đang "nằm chờ" ở miền Nam thì vượt quá sức tưởng tượng của Nguyên, không biết ân huệ bất ngờ này xuất phát từ đâu. Bởi vì nghe qua dư luận anh cũng đã biết rằng Tổ chức "mật vụ"của cố vấn Ngô Đình Nhu, mà đứng đầu là Bác Sỹ Trần Kim Tuyến, tàn bạo đến mức nào,  chúng sẵn sàng trừ khử thẳng tay bất cứ kẻ đối lập nào.

            Về năm 1980, nhân chuyến thăm Paris ông Đinh hữu Uyên, người bạn cũ của cha, Nguyên mới hiểu rỏ được những ảnh hưởng quyết định của tổng thống Ngô Đình Diệm đến số phận của 3 người con của vị ân nhân ngày nào. Trước khi rời khỏi cõi trần, một nhà nho chính cống sẽ phải trả hết các món nợ ân nghĩa trong đời sống đã qua. Đó là cách cư xử của một người « quân tử » đối với  cha của Nguyên, người mà cách đó không lâu là ân nhận cứu mạng ông. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã không thất hứa với bản thân dù phải bất chấp mọi trách nhiệm và nghĩa vụ nặng nề.

            Tuy nhiên số phận của LĐ Khôi lại rẽ theo một con đường không lường trước được. Việc anh bị bắt năm 1958 đối với ông vừa có lợi lại vừa có hại. Nếu như năm đó anh không bị bắt thì rất có thể đã mất mạng sau năm 1961 khi Mỹ triển khai chương trình Phénix Phénix (Phượng Hoàng) tiêu diệt một phần lớn (khoảng 8000 người) cán bộ cách mạng miền Nam và miền Bắc còn nằm lại ở Miền Nam sau hiệp định. Nhưng cái lợi năm 1958 lại biến thành cái hại năm 1975, khi anh bị chính quyền miền Bắc bỏ tù và bị đưa đi trại cải tạo trong suốt 12 năm, bất chấp sự can thiệp của người em trai, lúc đó là Đại tá trong quân đội giải phóng. Chính vì chịu cảnh ngục tù này mà cái hại lại biến thành lợi, khi cuối cùng anh cùng cả gia đình được xuất cảnh theo chưong trình HO của Mỹ sau khi Việt- Mỹ trao đổi sứ quán (Ảnh bên cạnh chụp cùng vợ).

            Nguyên lại nghĩ đến giai thoại về "Tá ông mất ngựa" rằng trong cái rủi lại có cái may và ngược lại, trong cái may lại có cái rủi, tuân theo phép biến đổi biện chứng.

            "Khi một người đi theo phía định mệnh cũa mình, thì thường bị bắc buộc phải rẽ theo một hướng khác", Paulo Coello đã diễn tạc điều đó trong tác phẩm « Ngọn núi thứ năm ». LĐ Khôi đã lựa chọn một trong hai hướng mâu thuẩn trong trường hợp "tiến thoái lưỡng nan" mà cuối cùng lại có lợi cho anh. Đối với anh ấy, định mệnh và vận mệnh trà trộn lẫn nhau.
         
            Người em LĐ Ấn cũng bị giam giữ sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ năm 1975. May thay người em LĐ Việt đang là đại tá quân giải phóng có mặt kịp thời để xin cho anh được tự do. Nhờ vào tài năng của mình, anh hợp tác với một người anh họ xa là Hồ Quang Minh, tốt nghiệp trường Bách khoa liên bang Lausane (EPFL). Với tấm bằng tiến sỹ khoa học, nhập quốc tịch Thụy sĩ, anh trở về Việt Nam và quyết định theo nghề làm phim.

            Năm 1991, hai cộng sự đã bắt tay vào làm những bộ phim trong nước và ở Cam-pu-chia, đoạt huân chương danh dự của Chính quyền VN về hành động ái quốc, và có tiếng vang của bộ phim trên trường quốc tế. (Ảnh phía trên : Hồ Quang Minh bên trái và Lê Đình Ân quay phim). Vận mệnh của LĐ Ấn đã đi theo định mệnh của anh.

            Còn về phần Nguyên, anh có cảm tưởng mình đã cưởng chế số phận vì đôi lúc anh có quá nhiều lựa chọn, và rẽ theo quá nhiều nẻo đường. Anh ngẫm ra rằng định mệnh của con người không chỉ chứa cái nghiệp chướng (karma) cá nhân, mà còn tùy theo cách cư xử cũa tổ tông có tu nhân tích đức hay là làm điều gian ác.  Tóm lại, định mệnh chia cho ta những quân bài, nhưng vận mệnh ta ra sao lại phụ thuộc vào cách ta chơi ván bài ấy.  Bản tính tự nhiên cũng là một nhân tố quan trọng, nhưng luôn luôn phụ thuộc những ảnh hưởng từ bên ngoài, không lường trước và cũng khó tránh khỏi được.

            Khi Nguyên chừng 10 tuổi, ông nội Nguyên đã biếu một thang thuốc chữa khỏi bệnh hen suyễn cho một người đồng nghiệp của cha anh hành sự ở Hà Nội. Gần như một lời cảm ơn, người này ngỏ ý muốn rút lá số tử vi cho năm cậu cháu trai của ông. Nguyên chỉ còn nhớ một vài chi tiết về lá số của mình. Về công danh sự nghiệp, sẽ có rất nhiều thăng trầm, thời kỳ đầu sẽ rất nhiều biến động nhưng bình yên và thanh nhàn về cuối đời. Thêm nữa là anh chỉ có thể thành danh ở nước ngoài, phải xa quê mới tốt. Về tình duyên, đến lần thứ ba mới có thể nên duyên vợ chồng, có cung mệnh nằm trong cung « Thân cư thê » (Sống tùy ở vợ). Anh sẽ không bao giờ giàu có nhưng lúc nào cần tiêu cũng có tiền trong túi. Về vận hạn thì anh đều được nhang chóng vượt qua vì có "Quý nhân phù trợ" nhờ vào "Cung phúc đức" của tổ tiên để lại.

            Ban đầu Nguyên cũng không tin lắm nhưng về sau, năm tháng đi qua cùng với những sự kiện xảy ra về cơ bản hoàn toàn giống y như trong những lời chỉ dẩn của lá số tử vi, làm anh tự hỏi : vận mệnh con người có thể chịu ảnh hưởng của những lời tiên đoán trong lá số tử vi ấy, nhưng điều này dường như chỉ là xác suất mà thôi !

            Bởi vì số phận con người quy theo các vị sao trên vủ trụ mang tính cách cá nhân rất lớn và không tính đến những xoay chuyển trong thời gian và không gian, cũng không tính đến những sự gặp gỡ ngẫu nhiên rất đa dạng, sự chọn lựa và định hướng đường đi của mỗi người  khác nhau.

             Đối với Nguyên, chọn lựa của anh đi liền với sự tự do quyết định và con đường của anh cũng đi theo con đường "duy tâm" mà cha ông của anh đã vạch ra. Và dường như có một khí lực siêu nhiên nào đó luôn bảo vệ anh, khiến anh thắc mắc không có câu giải đáp. Anh không biết yếu tố vô hình đó tồn tại ở bên ngoài hay cư ngụ trong con người anh ? Và khả năng tự bảo vệ đó liệu có cùng nguồn gốc với khả năng tự phục hồi hay không ?

            “Sự tìm kiếm vế thần linh” (La quête du divin) có lẽ sẽ giúp anh hiểu điều đó rõ ràng hơn.

            Lausanne,
            Mùa thu 2008.


            Em trai Nguyên, Lê Đình Quyền, sinh năm 1925, là con trai thứ 3 trong gia đình. Mẹ họ vẫn thường kể rằng bà sinh non anh lúc mới tròn 8 tháng 10 ngày; tuy nhiên anh vẫn phát triển bình thường như mọi đứa trẻ khác và thậm chí cao lớn hơn cả người em trai kế sau cậu ấy.Trong năm anh em trai thì cậu là người đẹp trai nhất, bẩm sinh rất thông minh, tính nết cứng cỏi nhưng dịu dàng, nhiệt tình, vui vẻ nên rất dễ kết bạn với mọi người xung quanh. Là huynh trưởng một đội Hướng đạo sinh và là thành viên hội Thanh niên phật giáo, cậu có một tinh thần rất cởi mở. Nguyên nhớ những câu chuyện giữa 2 anh em năm 1944 vào dịp nghỉ hè, cậu em trai chăm chú lắng nghe anh nói về Krishnamurti .. . Dù còn ít tuổi nhưng cậu có một tâm hồn rất sâu sắc. Cậu thích trò chuyện với Hòa Thượng Thích Trí Thủ trù trì ngôi chùa “Ba la mật” chỉ cách nhà có 2 bước chân. Duy chỉ có một điểm yếu mà mấy anh em vẫn thường đem ra cười trêu cậu, đó là vì chữ viết của cậu xấu như gà bới.

            Năm 1945 cậu vừa tròn 20 tuổi, cũng giống như ba người anh trai, cậu xung phong gia nhập Giải phóng quân. Dưới sự lãnh đạo của Võ Quang Hồ, tốt nghiệp trường Thanh niên tiền tuyến Phan Anh, những thanh niên trẻ lên đường Nam tiến để đối đầu quân Pháp đang tiến từ Sài gòn về Nha Trang.

            Trên sân ga Huế, cảnh tượng người thân đưa tiễn con em lên đường ra trận bịn rịn ngậm ngùi, trái ngược với khí thế bừng bừng quyết chiến của những thanh niên yêu nước nóng lòng ra trận, điều này được diễn tả trong những vần thơ của nhà thơ Lưu Hữu Phước :

             "Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu,
             … lúc quê hương cần người, giã trường lên yên,
             … dứt lòng tơ vương …"

             Trong khi đó những cô y tá tình nguyện, học sinh trường Đồng Khánh cùng hát vang : 

            "Khi ra đi là không ước hẹn ngày về,
             Ai quên ghi vào tâm đã bao nguyện thề, …"

            Mùa xuân năm 1946, một vài thương binh từ mặt trận trở về Huế báo tin rằng người em trai ấy đã hy sinh, mà không thêm thông tin gì khác nữa. Có người nói rằng anh hy sinh khi đang trèo lên một công thự để hạ lá cờ Pháp xuống, nhưng thi thể anh thì vẫn chưa tìm thấy.

            Năm mươi năm sau, trong lần thứ ba trở về quê hương vào năm 1996, Nguyên cố gắng tìm hiểu về tình huống cụ thể lúc đó. Ở Hà Nội, người em trai thứ năm Lê Đình Việt, đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho anh vài thông tin về ngày giờ và địa điểm trận đánh : Em trai họ hy sinh vào ngày mồng hai Tết (Tháng 2 năm 1946) ở khu vực giao nhau giữa ba con đường, ở Rừng Cấm Xe (Ninh Hòa). Nguyên quyết định tìm gặp người chỉ huy cũ, lúc đó đã là Trung tướng trong quân đội đã về hưu để hỏi rõ hơn. 
 
            Ở Huế, nhờ chị gái của ông Trung tướng, Nguyên ghi được địa chỉ của Võ Quang Hồ, người cùng học với anh ở trường Chaigneau năm 1932. Nguyên đến thăm người bạn cũ  vào một buổi sáng tháng tám năm 1996 ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, trong  một khu nhà dành cho cán bộ quân đội về hưu.

            Dù nhiều năm đã qua nhưng họ nhanh chóng nhận ra nhau (Có thể do thận trọng, nên qua điện thoại, người bạn học cho chổ hẹn ở một bến xe ô tô, có thể để xác minh trước khi đưa về nhà).

            Trên căn nhà lầu ba tầng sáng sủa, trước một khay trà sen, cựu Thiếu tướng kể lại các chi tiết đã qua :          

            "Thời ấy Tiểu đoàn của chúng tôi chủ yếu gồm các tân binh trẻ, trong một trận đánh ác liệt, chúng tôi bị đội quân lính Pháp dày rạn và đông hơn chúng tôi nhiều truy đuổi. Trước khi tiến vào khu vực rừng Cấm Xe, Quyền (Tiểu đội trưởng) cố tình lui lại ở sau. Nấp sau gò đất với một khẩu súng trường nhỏ, cậu ấy cố gắng trì hoãn bọn địch  để đồng đội có cơ hội phân tán để thoát thân. Như vậy, tổn thất của chúng tôi giảm đi rất nhiều thay vì một kết cục bi thảm cho toàn bộ anh em chiến sĩ. Sự hy sinh anh dũng của Quyền đã được khắc vào Tổ quốc ghi công.”

            Còn chuyện thân xác cậu ấy nằm ở đâu thì chỉ có bọn Pháp mới biết được. Ông Hồ đưa ra giả thiết rằng khi bọn địch phát hiện ra mưu kế này đã dội đạn không thương tiếc lên vị trí của Quyền mà lúc đó cậu đã biến mất cùng với khẩu súng của mình!”

            Nửa thế kỹ đã trôi qua (1946-1996) hai người bạn học già cùng ngồi im lặng, tưởng nhớ đến kỷ niệm đau buồn nhưng hào hùng của một Giải phóng quân ngày ấy.

            Từ thành phố HCM trở về Huế, trong căn nhà xưa, Nguyên thấy trên bàn thờ đặt một tấm bằng khen Tổ quốc ghi công được Thủ tướng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng. Nguyên cảm động đọc những dòng chử sau đây :

             "Tổ quốc ghi công Liệt sĩ LÊ ĐÌNH QUYỀN, tiểu đội trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, quê Phú Thượng, Hương Trà,…, đã hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 2 tháng 2 năm 1946."  Ký tên: Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ, ngày 17 tháng 10 năm 1979.”  



           

Em trai anh đã dũng cảm quên thân mình vì đồng đội, nhưng sự hy sinh đó giống như một vầng hào quang che chở cho gia đình anh vượt qua những hoàn cảnh kể dưới đây :

             Sau giải phóng năm 1975, một số cán bộ đảng tỉnh Quảng Bình, nhân dịp hợp  nhất về mặt chính trị 3 tỉnh Quảng Bình- Quảng Trị - Thừa Thiên muốn làm mưa làm gió ở tỉnh Thừa Thiên. Nhưng dân chúng tỉnh này không hề mắc lừa cho nên đã rất phẫn nộ đấu tranh chống lại kế hoạch hợp nhất, họ phản đối bằng một câu nói mỉa mai : « Hợp nhất Bình Trị Thiên có nghĩa là Quảng Bình “trị” Thừa Thiên tức là Quảng Bình cai trị Thừa Thiên » (Chơi chữ : Trị trong cai trị = Trị trong Quảng Trị). Dưới áp lực đòi tách lại các tỉnh, cuối cùng chính quyền cũng phải chấp thuận trở lại 3 tỉnh như trước.

            Trong giai đoạn vẫn đang bị hợp nhất, một vài cán bộ của tỉnh Quảng Bình nhân dịp hợp nhất, nhòm ngó khu nhà vườn tược của gia đình Nguyên nằm bên bờ sông Hương. Bởi vì sau giải phóng, mọi luật lệ đều đảo lộn, những kẻ mạnh tranh giành đất đai của kẻ yếu. Tuy nhiên, mọi ý đồ đều nhanh chóng bị dập tắt bởi vì họ không dễ dàng cướp được đất đai tài sản của gia đình một liệt sĩ đã được Tổ quốc ghi công. Chính người em út, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam Lê Đình Việt (Ảnh bên cạnh) đã chỉ cho họ thấy tận mắt bằng "Tổ quốc ghi công" được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký.

             Em trai Nguyên mất đi đã biến ra thành một vị thần hổ trợ, nhờ vậy mà ngôi nhà và một phần đất liền kế được giữ lại dùng để làm nơi thờ phụng tổ tiên gia đình họ LÊ ĐÌNH.

            Như vậy vận mệnh của một gia đình ra sao dường như chắc chắn gắn liền với số phận của từng thành viên trong gia đình ấy.  

            Lausanne, 
            Mùa thu 2008
            LĐ T



 

            

                 Cổng vào nhà thờ : Tấm bảng "TỪ ĐƯỜNG HỌ LÊ-ĐÌNH", dựng lên ngày 16.02.2014, do thứ nữ nhà nhiếp ảnh Lê-Đình Ấn - Lê Thị Hồng Tuyến - từ Úc châu về thăm quê hương.   

                     Tiêp theo :  3.- Gia tộc LÊ-ĐÌNH