5.- Gia tôc LÊ-DÌNH

            Trong mấy trang hồi ký trước, tôi chưa có dip nói đên các em gái, may nhờ có cháu  Nguyễn Phước Lộc, con thứ hai của bà Anê LÊ THỊ PHỤNG, em gái đầu, hàng thứ sáu sau tôi, chuyển bài sau nầy (qua Antontruongthang’s Blog) đễ bổ túc :

                                            GÁI THÔN V, TRAI PHƯỜNG ĐÚC.
            ĐỂ GHI NH MI TÌNH PHÊRÔ NGUYN VINH HIN, ANÊ LÊ TH PHNG.

                  (Nhân ngày giổ hai năm của Bà Anê Lê Thị Phụng : 6/10/2009 – 6/10/2011).

            Nói đến Huế là nói đến Tử Cấm Thành, là Điện Thái Hòa, là lăng tẩm các Hoàng đế, là Chùa Thiên Mụ,
            Nhưng nói đến Huế có người lại nghĩ đến sông Hương “nước chảy lững lờ”, đến núi Ngự Bình “trước tròn sau méo”, đến cầu Tràng Tiền “sáu vày 12 nhịp”.
            Nói đến Huế mỗi người mỗi ý nghĩ, vì Huế mộng Huế mơ, vì cảnh Huế “không nơi nào có được”.
            Tôi cũng rất yêu Huế, nhưng Huế với những trang lịch sử thanh bình và đau khổ. Nụ cười và nước mắt. Tím Huế và khăn sô.

            Và cũng như Hội An, Huế xưa là nơi Tin mừng Chúa Kitô được đón nhận rất sớm và cũng là nơi mà Giáo hội có rất nhiều chứng nhân đức tin tại đế đô. Từ câu chuyện Maria Mai Đệ Liên (Madalena) Minh Đức Vương Thái Phi , ái phi của Chúa Nguyễn Hoàng, bị con là Hoàng tử Nguyễn Phúc Khê phá sập nhà thờ để chứng tỏ lòng “trung quân”, không có tư tưởng đoạt ngôi Chúa của Nguyễn Phúc Lan, bất chấp chữ hiếu khiến mẹ đau buồn đến chết; cho tới trên hàng chục vị “tử vì đạo” của giáo phận Huế được Giáo hội hoàn vũ đưa lên bậc hiển thánh như linh mục Emmanuel Nguyễn văn Triệu, thế kỷ 18, quan thái bộc Micae Hồ Đình Hy, sĩ quan (đội trưởng) Phanxicô Trần Văn Trung, Phaolô Tống Viết Bường…thế kỷ 19.

            Những con người luôn lấy “trung hiếu” làm đầu, tận tụy với chức vụ nhưng đành phải hy sinh chỉ vì tin vào Tin mừng Chúa Giêsu.

            Đầu thế kỷ 20, cuộc tình và đám cưới linh đình của đôi trai gái tài sắc vẹn toàn : vị vua trẻ tuổi Bảo Đại với hoàng hậu Nam Phương ngoan đạo cũng không đủ sức làm dịu đi những thành kiến đối với giáo hội công giáo.

            Nhưng bất chấp những chống đối của gia đình và xã hội, vẫn có một Đa minh Tôn Thất Sa, một Giuse Maria Nguyễn văn Thích, tức Sản Đình, con của cụ Thượng Lô Giang Nguyễn văn Mại, một Thiên Phong Bữu Dưởng , con trai cụ Ưng Trình, Đại thần Cơ mật viện và đại thần Tôn Nhơn Phủ ( 1936), mẹ lả Trần thị Như Uyển cũng con quan Thượng Thư, trở lại công giáo và làm linh mục thánh thiện và bao nữ tu xuất thân từ cửa Khổng, sân Thiền như chị Mai Thành, chị Bernadette Diệu Khánh…Sống đức tin công giáo nhưng họ vẫn làm vẻ vang cho đất nước và dòng tộc.

            Đầu thế kỷ 20, các thiếu nữ Huế, tuy “cửa đóng then cài”, cuộc đời mãi còn nặng quan niệm Khổng giáo “ tứ đức tam tòng”. Tứ đức: “công dung ngôn hạnh”, tam tòng : “tùng phụ, tùng phu, tùng tử”…nhưng nhờ làn gió văn minh Tây phương thổi tới cũng bắt đầu xuất hiện nơi công cọng , với áo tím Đồng Khánh, áo trắng , áo xanh thiên thanh Jeanne d’ Arc làm bao chàng trai ngẩn ngơ, nhất là các chàng “ trong Quảng ra thi”.

            Chính trong bối cảnh ấy, năm 1930, một cô gái tộc Lê, chào đời và lớn lên nơi bến sông Vỹ Dạ. Vỹ Dạ, cái tên thân thương đó, ai cũng biết vì đã được thi sĩ công giáo Hàn mạc Tử “bất tử hóa” qua một bài thơ viết khoảng năm 1938.

            Đây thôn Vĩ Dạ.

            Sao anh không về chơi thôn Vỹ ?
            Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
            Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
            Lá trúc che ngang mặt chữ điền
            Gió theo lối gió, mây đường mây
            Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay …
            Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
            Có chở trăng về kịp tối nay?
            Mơ khách đường xa, khách đường xa,
            Áo em trắng quá nhìn không ra …
            Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
            Ai biết tình ai có đậm đà?

            Vỹ Dạ là khu vực gia đình các quan lại sinh sống trong đó có tộc Lê (gần nhà máy bia Huda hiện nay). Cô bé được đặt tên một loài chim quý, chim phượng, Lê thị Phụng.

            Ông nội cô là một nhà nho hành nghề y, rất thương người nghèo và tật bệnh, ông đã dạy bảo con cháu phải có lòng nhân hậu. Ngày Chúa nhật, số tiền “bố thí” tích lủy trong tuần, ông cho phép các cháu lấy ra giúp những người cơ cực, kẻ 5 xu, 10 xu tùy theo hoàn cảnh.
            Thân phụ cô làm làm việc tại Toà Khâm sứ Huế, nghiêm nghị và nguyên tắc.

            Lòng nhân từ của ông nội và sự cương nghị của thân phụ có lẻ đã thấm sâu vào tâm trí cô gái khuê các kia và sẽ giúp cô đương đầu với những trận bão táp trong tương lai.

            Nhận thấy nền giáo dục công giáo có nền tảng tốt, khi cô gái lớn lên, cha mẹ tín nhiệm đã gửi vào trường nội trú Jeanne d’Arc do các nữ tu dòng Thánh Phaolô chăm sóc. Thiếu nữ Lê thị Phụng được chuẩn bị mọi đức tính và giá trị nhân bản tốt nhất để một ngày sẽ trở thành phu nhân một vị quan, một bác sĩ, giáo sư, kỷ sư.. hay một chức vị cao sang nào đó như đa số các cô gái con nhà quyền quý Thủ đô Huế. Nhưng thiên ý lại khác.

            Vào thời kỳ đó, có một chàng trai Phường Đúc quyết chí dâng mình cho Chúa trong chức vụ linh mục. Nhưng một tai nạn khủng khiếp đã xoay chiều cuộc sống. Trước năm 1950, vào giai đoạn chiến tranh ác liệt Việt- Pháp, một ngày thầy Phêrô Nguyễn vinh Hiển vâng lời bề trên chuyển thư của Đại chủng viện cho một thầy phó tế đang ở vùng quê. Trong chiếc áo dòng đen, thầy vui vẻ đi mà không biết là lính Pháp đang theo dõi từng bước chân của mình. Nguyên trước đó có xảy ra sự kiện Việt Minh giả dạng một linh mục, mặc áo thâm chùng ( áo dòng đen) và việc đó đưa đến việc công đồn, khiến nhiều lính Pháp mất mạng, cho nên chúng nghĩ rằng màn kịch nầy nay tái diễn. Khi hai thầy vừa gặp nhau, không cần hỏi phải trái, lính Pháp bất ngờ tấn công. Với một phát báng súng đập mạnh vào ngực, chúng nó giết chết ngay thầy phó tế và một phát báng súng khác làm bể phổi thầy Vinh Hiển. Thầy thều thào: “tôi là chủng sinh đi giao thư, tôi không phải Việt Minh”. Lính Tây vội chuyển thầy về bệnh viện Pasquier và với vết thương quá nặng đó, thầy phải mất nhiều năm điều trị. Sau bảy năm, Chủng viện yêu cầu thầy nên đổi hướng vì lý do sức khỏe. Âm thầm đau khổ nhưng thầy thuận theo ý Chúa, không “phàn nàn nan trách”.

           Mười hai thầy đồng lớp đã tiến lên chức linh mục, trong đó có một người sẽ lừng danh sau nầy, đó là Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận  (Ảnh bên phãi : Hống Y  F.X. Nguyễn văn Thuận lúc còn làm giám mục Nha Trang năm 1971). Con số xui xẻo 13, thầy nhận lấy cho riêng mình. Quý nữ tu bệnh viện Pasquier rất quý và hiểu khả năng nên sau khi khỏi bệnh đã mời thầy lo công việc bệnh viện và nhà dòng. Từ nay, thầy quyết định tu tại gia.

            Nhưng một nữ tu tên Marie nào đó có cặp mắt tinh đời: “Tại sao mình không tìm cách xe duyên chàng trai nầy với cô Lê thị Phụng học trò trường Jeanne d’Arc duyên dáng kia?”.

            Dịp may hiếm có, thân phụ cô Phụng vi kém sức khoẻ, cần một người biết tiêm thuốc bổ dưỡng, nữ tu Marie vội sai thầy đi giúp bệnh nhân tại nhà, và việc gì đến, đã đến, đúng theo kịch bản tinh quái của “ ma xơ”. Bên cạnh những lời dịu ngọt “ quảng cáo sản phẩm” và những “mưu mô” tạo điều kiện gần gũi tìm hiểu nhau. “ Ma xơ” nhà ta thổi lửa riết, cuối cùng thì lửa cũng bùng lên. Lửa tình yêu càng lúc càng bốc cháy to trong tim hai người và sau khi tìm hiểu, hai người quyết định tính chuyện trăm năm. Chỉ còn một cửa ải khó khăn cuối cùng : xin phép gia đình được gia nhập đạo công giáo. Cô gái, học trường dòng, nên cũng đã hiểu giáo lý và mến đạo trước khi gặp gở người yêu, cô tìm dịp thuận tiện và khiêm nhường xin phép thân phụ trở thành con Chúa. Dù rất thương con, nhưng về chuyện nầy, thân phụ nhất quyết không chấp nhận. Ông sợ sẽ bị dư luận dị nghị và con gái “ sẽ bỏ ông bỏ bà”. Sau một thời gian “ tâm lý chiến”cản ngăn không thành công, ông quyết định dùng biện pháp mạnh, kể cả quát mắng và cưỡng chế. Trong ba ngày cuối cùng, dù rất đau lòng, để cho cô suy nghĩ lại, ông đành giam cô gái cưng vào nhà “ cầu”, khá hôi hám vào thời đó và ra “tối hậu thư”, để chờ quyết định cuối cùng, cô chọn ý kiến gia đình hay ý riêng? Cô gái giữ vững lập trường…Hai cha con, trái tim tan nát. Ngày vui thành hôn đã trở thành một ngày thật buồn đối với cô. Cô từ biệt mái ấm trong đau đớn nhưng tình yêu giúp vượt qua tất cả. Không còn nơi nương tựa của gia đình bên ngoại, nhưng Chúa lại thưởng công cho hai người bằng sự kiện Đức Khâm sứ Tòa Thánh lúc đó quyết định rời Huế ra Hà Nội nên đã giao hẳn Tòa Khâm sứ Phủ Cam to rộng nguy nga cho đôi bạn trẻ chăm sóc giùm, một việc làm kinh ngạc mọi người. Tại nhà Khâm sứ Tòa thánh Phủ Cam ấy hai cháu trai đầu tiên Phúc, Lộc đã chào đời. Trong một chuyến thăm gia đình, nhìn thấy hai con hạnh phúc và cháu trai kháu khỉnh, ông ngoại đã nghĩ lại và việc hòa giải tiến triển tốt đẹp. Bỏ qua chuyện cũ, thân phụ đã tặng cho gia đình trẻ một ngôi nhà xinh xắn, tiện nghi.

            Rồi cuộc sống đã đưa gia đình anh chị Hiển, Phụng về Hội An năm 1958. Giáo xứ Hội An lúc đó rất thưa thớt, chỉ có một số ít công chức công giáo và một số gia đình họ tộc như họ Bùi Quý . Tuy mang chức vụ khá cao cấp trong Tòa hành chánh tỉnh Quảng Nam, nhưng ông Hiển lại có cốt cách của một người tu trì, sau giờ công sở, ông nhiệt tâm phục vụ giáo hội và người nghèo, lôi theo người vợ trẻ đạo đức. Khi đi bộ, hồi xe đạp, lúc đèo nhau trên xe Mobylette, họ đã đặt chân đến bao làng mạc quanh Hội An, cùng với cha Phaolô Nguyễn Tưởng, đem Tin mừng Chúa Giêsu cho mọi người. Sổ Rửa tội, Thêm sức và Hôn phối của Giáo xứ Hội An ghi đầy tên hai người đỡ đầu Phêrô Nguyễn Vinh Hiển và Anê Lê thị Phụng (Ảnh bên trái : Hiển Phụng và con đầu lòng Nguyên Vinh Phúc, Huế 1952). 
            Tuy tham gia tích cực vào việc đạo, họ vẫn chu toàn trách nhiệm làm cha làm mẹ. Từng đứa con trai, gái xinh đẹp ra đời, được giáo dục nghiêm khắc trong đời sống đạo và đời. Phúc, Lộc, Thọ, Chân, Thiện, Mỹ, Thiên, Đường, Hiền… Nhưng có ai biết trước được số phận. Trong trận lụt lớn năm Thìn, 1964, ông Hiển trong khi thi hành nhiệm vụ giúp dân của một công bộc đã bị dòng nước cuốn trôi và nhận chìm, từ giã cỏi đời không một lời trăn trối, để lại cô vợ trẻ và đàn con nheo nhóc. Nuốt dòng lệ vào trong, chấp nhận thánh ý Chúa, không một giọt nước mắt yếu hèn, cô chỉ còn biết dựa nương vào sức thiêng vào khối óc và bàn tay lao động của mình. Và người góa phụ trẻ đó đã vững vàng vượt qua bao cơn giông tố cuộc sống. Để giúp cô có điều kiện nuôi con, chính quyền tỉnh Quảng Nam lúc đó cho vào ngành cảnh sát và làm giám thị nữ trung tâm cải huấn Hội An. Với danh hiệu giám thị trại tù, nơi cũng giam giữ để thanh lọc nhiều cán bộ cọng sản, sau năm 1975, lẻ ra bà Phụng phải hứng chịu bao hậu quả đau đớn, nhưng những lãnh đạo cách mạng địa phương hiểu rõ tấm lòng của bà, bà chỉ làm bổn phận luật pháp quy định, trung thực và nhân hậu, nên mọi việc rồi cũng qua. Gánh nặng trước mắt là lo nuôi gần chục cái miệng háu ăn và việc học hành cho con cái trong một Hội An hậu chiến, người đông mà không có đất canh tác và ngành nghề ra hồn. Vừa là mẹ, vừa là cha, bà giáo dục con cái êm dịu nhưng nghiêm khắc, có tình có lý. Ngày nay, khi Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới, và là thành phố du lịch, con cái bà cũng chiếm lỉnh được những công việc kinh doanh rất tốt nhờ học vấn và kinh nghiệm sống tuổi trẻ có kỷ cương.

            Trước khi tôi về đây, bà đã được tỉnh Quảng Nam đề nghị đi dự đại hội các phụ nữ có ba thế hệ vẻ vang (Ảnh bên phãi : Gia đình tiêu biểu ba thế hệ : Đại biểu tỉnh Quảng Nam năm 2005). Nhiều người phản bác vì lý lịch của bà nhưng khó có ai hội đủ những yếu tố trên nên dù bà khước từ nhiều lần, cuối cùng bà cũng được cử làm đại diện. Tuy lý lịch có “đen” trong Nam, nhưng ngoài Bắc, tộc họ tập kết của bà cũng rất “ đỏ”. Trong đám tang của bà, một đám tang khá lớn, khách viếng thuộc rất nhiều thành phần từ người có địa vị cao đến những người bình dân khiêm tốn, sự kiện nầy mang nhiều ý nghĩa. 
 
            Về phần đạo, trước khi tôi về đây bà đã giúp đỡ bao linh mục dù rằng nhiều lúc phải cúi đầu nhục nhã trước cộng đồng, bị cấm xưng tội rước lễ không phải do lỗi mình nhưng vì lúc đó không giải quyết được chuyện hôn nhân con cái theo giáo luật. Lịch sử hình như lập lại đúng như câu chuyện của mình và thân phụ ngày xưa. Vào trường hợp nầy, nhiều người sẽ bất mãn, kể cả bỏ đạo, nhưng bà đã cúi đầu cam chịu mà còn tích cực hơn trong công việc phục vụ giáo xứ.

            Cuối năm 2006, , khi cha phó Tôma và tôi là Antôn, quản xứ về Hội An, nhà xứ hơi buồn vì giữa giáo dân và các cha còn xa lạ, chưa hiểu nhau nhiều. Nhưng chúng tôi thật cảm động khi thấy bà và các chị em “ vệ sinh môi trường”, tên rất đẹp, để nói lên một việc mà ai cũng ngại : quét nhà thờ, quét rác…tiếp tục làm công việc bình thường. Mệ Hiển hoặc thân mật hơn Bà Cố Hiển, qua khuôn mặt nghiêm nghị, ẩn chứa cả một đức tin bằng “ việc làm” rất sống động, bà an ủi, nâng đỡ chúng tôi rất nhiều. Càng sống lâu bên bà, chúng tôi càng hiểu thêm về người phụ nữ thầm nhuần nền giáo dục Nho giáo và Phật giáo nầy, để nhận ra rằng đức tin công giáo không là trở ngại mà là sức mạnh thăng hoa cuộc sống.

            Một sự tổng hợp tuyệt diệu!

            Vào năm cuối đời, do con cháu cần xây cất lại nhà mới, bà và tôi thường ra “Villa le Nhaque”, “ biệt thự anh nhà quê”, nói cho oai chứ chỉ là một đám ruộng với với rất nhiều cây xanh, ao nước và gió mát để tránh cái nóng mùa hè nhất là những hôm “cúp” điện. (Ảnh bên trái : Về già, mùa xuân 2009) Khu vực nầy có rất đông sinh viên cao đẳng thủy lợi và điện lực nhiều tỉnh thành miền Trung theo học. Các em cũng rất mến bà vì bà luôn khích lệ các em học tập và thường âm thầm hổ trợ cả về tài chánh khi các em gặp khó khăn. Các em cũng thân mật gọi bà là “bà cố Hiển” như chúng tôi. Vào dịp lễ Giáng Sinh, tôi muốn tổ chức cho nhóm sinh viên nhỏ đó một cuộc vui. Bà đồng tình và cấp tốc yêu cầu con cháu sắm ngay một bộ tượng, cây thông Noên và đèn trang trí. Tuy là đề nghị nhưng thật ra là “lệnh” làm đám con cháu “quáng gà” vì ở Hội An không có bán bộ “Sinh Nhật”. Cuối cùng, bằng mọi cách, chúng cũng phải “ thỏa mãn yêu cầu khách hàng” quan trọng nầy dù ngày đại lễ sắp đến, chậm trễ là không xong với bà, họ rất hiểu tính mẹ mình. Gần ngày đại lễ, các em cùng bà làm xong “hang đá”, tôi ra xem và chê cái nầy cái khác…Bà đỏ mặt nói với tôi : “ Cha cứ để cho các em làm theo ý, các em có đạo đâu, để các em tự làm, không hiểu các em sẽ hỏi, lúc đó sẽ hay…”. Tôi giật mình vì cái ý tưởng quá sâu sắc trên, đành cười giả lã làm hòa vì bà quá có lý. Mình quả là cạn nghĩ !

            Không phô trương, rất âm thầm bà có mặt trong các chương trình tham viếng các linh mục vùng sâu, vùng xa và các vị hưu trí; động viên con cháu thực hiện những công trình trùng tu lớn nhỏ mà không ai hay; hòa giải các vụ xung đột giữa các cá nhân, phe nhóm; nâng đỡ các linh mục trẻ…nên được gọi là “bà cố” dù con cái bà không ai là linh mục, tu sĩ.

            Bà về thôn Vỹ ngày xưa và cương quyết giữ lại ngôi từ đường của tổ tiên dù bà là gái trong khi rục rịch có người muốn “bán và chia”. Sau khi nhượng một phần đất, số tiền trên được dùng để trùng tu và hàng năm con cháu thuộc nhiều thành phần và tôn giáo vẫn quy tụ về Vỹ Dạ để tưởng nhớ công ơn tổ tiên và sống mối dây liên kết huyết thống. Bà chứng tỏ đi đạo chẳng bỏ ông bỏ bà như có người lo sợ. Dòng tộc bà ngày nay có mặt tại nhiều nơi ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới nhưng tôi thấy ai cũng kính nể bà.

            Hôm nay, kỷ niệm hai năm ngày bà về với Chúa, tôi viết những dòng nầy không nhằm mục đích ca tụng cá nhân ai, nhưng muốn nhắc lại một nhân chứng sống đức tin giữa cộng đoàn mà có lẽ ít người biết đến ( Ảnh dưới đây : Thánh lễ an táng tại Thánh đường Hội An).

            Ơn gọi linh mục, tu sĩ cũng quý nhưng ơn gọi con Chúa sống giữa đời đâu có kém ai. Không làm linh mục, hồng y, nhưng giáo dân Vinh Hiển, Thị Phụng cũng đầy công trạng trước mặt Chúa, giáo hội và đất nước, dòng tộc.
            Mọi sự sẽ qua đi nhưng tình yêu mãi tồn tại.
            Sau bao tháng ngày chia cách, ngày nay về phần xác, anh Phêrô Vinh Hiển lại đoàn tụ với chị Anê Lê Thị Phụng trong một thánh đường thu nhỏ tại nghĩa trang Hội An và mãi mãi bên nhau trong hạnh phúc muôn đời của Thiên Chúa dành cho những ai biết sống Mến Chúa, Yêu Người !

            Giáo xứ Hội An xin cám ơn hai vị !

            Hội An ngày 5 tháng 10 năm 2011
            LM Antôn NGUYẼN TRƯỜNG THĂNG.

                                Hội Gia tộc đoàn tụ bên lăng mộ nghĩa trang Hội An 2010.
 

           Tôi không khỏi ngậm ngùi khi hồi tưỡng đến cô em đã quá cố. Sau 46 năm xa cách, gặp lại Cô em, khi có dịp về thăm quê hương năm 1991. Nét mặt không thay đổi, nhưng trong giáng mãnh mai ấy đã chứa đựng một nghị lực và một  can đãm khác thường. Qua các anh em tôi mới biết : mất chồng năm 1964, vào lúc 33 tuỗi phãi một mình chăm sóc 9 đứa con.

 

    

                                           Ảnh chụp gia đình (do con thứ hai Nguyễn Phưóc Lộc bổ túc).

            Thấy hơi gầy hơn trước, tôi gặn hỏi mới hay là bị viêm phổi vì thiếu ăn và thiếu ngủ : « Em phãi dậy từ 5 giờ sáng đễ làm bánh ngọt, và đem ra chợ bán cho sớm ». Nếu anh em có cho tiền, là chia ngay cho các con, và tự túc lấy… May mà vài năm sau được thanh thãn hơn.

            Một sự việc mà tôi không khi nào quên được là « Hòn non bộ » sau nhà Từ đường ở Huế.

            Theo Nho giáo mà chúng tôi đã thấm nhuần, về phía nữ : « Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tữ ». Nhưng Cô em, tuy lấy chồng xa, và còn bận bịu với con cháu, vẩn không quên tổ tiên và nơi chôn nhau cắt rún. Khi nào ra Huế, thấy nhà từ đường chổ nào mục nát là bỏ tiền ra, kêu người sửa chửa, không đợi ý kiến của các anh em khác.

 

           Một hôm, được tin ông anh vô tư, có ý định cho thuê mảnh đất sau nhà từ đường đễ làm quán cà phê. Ngay lập tức Cô em ra Huế bảo ông anh một cách thãn nhiên « Nếu anh cho làm quán chổ ni, sau hai phòng ngũ, anh sẻ thức suốt đêm. Trước đây chổ đó, ông nội mình có làm một Hòn non bộ. Em muốn làm vui lòng ông nội ! ». Nói rồi bỏ tiền ra kêu thợ đến xây ngay công trình dự dịnh. Khôn ngoan, ngoại giao và tế nhị, ông anh thán phục cô em !.

            LÊ-ĐÌNH Tuế
            Lausanne,
            Mùa thu 2013
 

         Anh thứ năm : Lê Đình Việt, Đại tá miền Bắc (hàng đứng bên phẳi). Anh thứ tư : Nhà nhiếp ảnh Lê Đình Ấn (ở giửa) Em rể : Nguyễn Khoa Điềm, Đại tá miền Nam (bên trái). 
         Ba chị em  : Quyên, Phụng, Ẩn (hàng ngồi từ trái sang phãi)
         Vẫn vui vẽ bên nhau sau ngày thống nhất đất nước.

            Tại sao chúng ta vản vui vẻ ? Có lẻ vỉ nhờ phước đức của Ông Cha và truyền thống nho giáo : nhân, nghĩa, lể, trí, tín. Anh em thương nhau không để ý đến khuyết điễm hay lổi lầm của cá nhân.

            Trước, và sau lúc nước Việt Nam thống nhất, có nhiều anh em, bạn bè chia rẻ vì lý do chính trị, đãng phái. Tã hay hữu, đỏ hay đen, cộng hay ngụy. Thật là buồn cười, những người cạn nghĩ về lý trí và hẹp hòi về tâm tư.

             Tuy nhiên, có những người thoát được sự chia rẻ cá nhân, nhưng đối với tổ quốc còn có chuyện hiễu sai. Tôi còn nhớ một người bạn thân ờ Paris, đối với các bạn học xưa không có sự phân biệt kể trên, nhưng có lúc than phiền với tôi : "Chúng ta đã mất nước !" . Tôi trả lời lại : "Sao anh quá bi quan như vậy ? Nước Việt ta qua ngàn năm bị Trung hoa đô hộ vẫn còn tồn tại đến nay."

            Thực ra, nước Việt Nam bất diệc, chỉ có các "chính quyền" đổi thay mà thôi ! Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Ánh, không có ai "vạn đại dung thân" được ! Sấm Trạng Trình có khi không thoát được sự xoay vần biến chuyển của Tạo hóa.

            Trong Kinh Dịch, theo thyết Âm Dương, tóm tắc một câu :
            "Một thời âm, một thời dương, đó là Đạo", con đường đi, theo thường luật của vũ trụ.
            Nhưng các cá nhân, củng như các quốc gia trên thế giới, vì quá "tham - sân - si" hay quên các bài học của lịch sử. Quá thiển cận, chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng, nên đã gây ra những hành động đáng tiếc. Một chế độ không tiến triển sẻ trở thành mục nát ...          

            "Dương thịnh Âm suy, Âm thịnh Dương suy", theo hình dưới đây :

            Dương bên trái, ở dưới, đi lên qua bên phãi, tiến đến mực phát triển cực điểm, nhường bước cho Âm, và Âm phát triển đến mực cực điễm lại nhường bước cho Dương. Cứ thế mãi, mãi không ngừng. Hai điểm trắng và đen chỉ định rằng : mổi khi Dương hay Âm đi đến mực phát triễn cực điễm, đã chứa ở trong mầm đối lập : Trong Âm có mầm Dương, vâ trong Dương có mầm Âm. Dương và Âm tuy đối lập mà bổ sung cho nhau. Không có thể thuần Dương hay thuần Âm được. Sẻ không có đời sống của một sinh vật nào trên quả đất nầy !

            Vận mệnh của cá nhân hay vận mệnh của mổi quốc gia đều phụ thuộc vào sự biến chuyễn ấy, theo chứng kiến trong lịch sử đã qua. Mọi hành động đều bị chi phối bởi thờithế !

            Đến đây tôi không khỏi nhớ đến hai câu đối bất hũ của hai nhân vật Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm :
            Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai !
            Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế !

            Anh em chúng ta mổi người  đều có một định mệnh và một vận mệnh riêng biệt.
            Người ở Nam kẻ ở Bắc, trãi qua các cuộc chinh chiến chống Pháp, chống Mỹ, qua các chính quyền thay đổi, qua các biến chuyễn trên vũ trường chính trị. Kẻ thù thành bạn, kẻ bạn trở nên thù. Nên giúp đở lẩn nhau hơn là tranh dành địa vị hay quyền lợi.

            Vì thờithế, ai có thể cho mình là có nhận định "đúng" hơn, và người khác đi sai đường ? Vả lại trên đường đời, ở trong trường hợp, và hoàn cảnh khác nhau, ai có thể tự hào rắng không có lúc lỗi lầm, không có khi lạc bước ? Ngay cả ông cha chúng ta củng không tránh khỏi !. 

            Không một ai có thể đứng vào vị trí hay địa vị người khác được. Nếu sống mà chỉ có mục đích chỉ trích, xét xử, hay giận hờn, rồi tự bào chữa đổ lổi cho đối phương, kết quã sẻ đem lại khổ tâm và tai hại cho mình, như trường hợp hai nhân vật tài hoa lổi lạc Ngô Thì NhậmĐặng Trần Thường, kể lại sau đây :

            Danh nhân Ngô Thì Nhậm là con Ngô Thì Sĩ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên. Ông thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ năm 1775. Sau khi đỗ đạt làm quan dưới triều Lê -Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý phục. Vụ án năm Canh Tý (1780) nổ ra, ông không can dự gì nhưng cũng phải bỏ trốn về Thái Bình lánh nạn. Khi biết Nguyễn Huệ nổi dậy khởi nghĩa, đánh đâu được đấy, đi đến đâu cũng cứu giúp dân nghèo, Ngô Thì Nhậm đã có ý muốn theo phò Nguyễn Huệ. Năm 1787, khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, ông đã thực hiện được mong muốn này. Nguyễn Huệ phong ông làm Tả thị lang Bộ Lại.

             Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt , với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn .

            Năm 1790 , vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư . Tuy làm ở bộ Binh, nhưng Thì Nhậm chính là người chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa. Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa .

            Không chỉ là một danh sĩ, thành viên của Ngô gia văn phái mà Ngô Thì Nhậm còn là người văn võ song toàn, giỏi về chính trị, ngoại giao, quân sự. Tài ngoại giao của ông đã góp phần quyết định, ngăn chặn ý đồ gây chiến phục thù của nhà Thanh sau trận Đống Đa 1789.

            Sau khi Quang Trung mất, ông không còn được tin dùng, quay về nghiên cứu Phật học.

            Khi Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn, tiến hành cuộc trả thù man rợ. Nhiều võ tướng triều Tây Sơn như Trần Quang Diệu Bùi Thị Xuân ... bị hành hình. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích Nguyễn Thế Lịch và một số viên quan triều Tây Sơn thì bị đánh bằng roi tại Văn Miếu năm 1803. Ngô Thì Nhậm sau trận đánh đòn, về nhà thì chết.

            Vì sao Ông còn gọi là Ngô Thời Nhiệm ? Ấy là vì thế này : Đến đời ông vua thứ tư của triều Nguyễn là Tự Đức trở về sau người ta gọi Ông là Ngô Thời Nhiệm chẳng qua sợ phạm húy, đó là vì vua Tự Đức có cái tên cúng cơm là Nguyễn Phúc Thì và tên hiệu là Hồng Nhậm, kế tiếp vua cha là Miên Tông, tức vua Thiệu Trị, theo Đế hệ thi (Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh…). Ngày xưa phạm húy là tội rất nặng, chết như chơi, có khi còn bị tru di tam tộc. 

            Và nhân vật thứ hai, Đặng Trần Thường :
            Đặng Trần Thường (1759 - 1813), người huyện Chương Đức (nay là huyện Chương Mỹ Hà Đông), đậu sinh đồ về cuối đời nhà Lê. Đặng Trần Thường là con cháu của nhà Trần từng ba lần oanh liệt thắng quân Nguyên, phải cải sang họ Đặng do những biến đổi lịch sử khôn lường trước khi tới định cư tại thôn Lương Xá xưa (nay thuộc xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Tới đời nhà Lê, dòng họ Đặng này lập được nhiều công tích lớn nên rất được trọng dụng (từng có câu ca : "Làm quan họ Đặng..."). Cụ tổ chín đời trước của ông là một đại công thần của thời Lê trung hưng.

            Cha ông là Đặng Thông Mẫn. Mẹ họ Phạm, là con gái thứ hai của Tiến sĩ Công bộ Thượng thư tước Quận công Phạm Quang Dung. Tương truyền, cha Đặng Trần Thường đã tới cầu tự tại chùa Viễn Sơn, nằm mộng thấy thiên sứ cầm cờ đeo chuông từ trên trời xuống mang theo một người và nói: " Đây là Văn khúc Tinh quân, vâng mệnh Thượng đế ban xuống làm con ông..."

            Chín tháng mười ngày sau giấc mơ đó của chồng, Phạm phu nhân đã sinh hạ người con trai cả vào ngày 18 tháng giêng năm Kỷ Mão (1759; cũng có sách chép là năm 1758). Thông minh, dĩnh ngộ, Đặng Trần Thường được cha cho học văn từ năm lên 9 tuổi.

            Không quá chăm chỉ đèn sách nhưng do sáng dạ nên năm 16 tuổi, Đặng Trần Thường đã thi Hương trúng cách vào đệ Tam trường. Tuy nhiên, đúng lúc đó thân phụ lại lâm bệnh nặng nên Đặng Trần Thường đã không đi theo nghiệp lều chõng nữa mà về nhà chăm sóc cha.

            Rồi ông phải chịu liên tiếp hai tang lớn: Cha ông qua đời và hai năm sau, mẹ ông vì quá đau buồn cũng đi theo chồng về nơi suối vàng. Gia cảnh của Đặng Trần Thường lúc ấy thực khó khăn, tiền của sa sút dần nên ông hay phải nhờ vả bạn bè.

            Mãi tới năm 1782, Đặng Trần Thường mới lại tới kinh sư làm học trò của vị Tiến sĩ họ Nguyễn, người làng An Vĩ. Ông học rất sáng dạ nên được vị Tiến sĩ họ Nguyễn kỳ vọng sẽ đỗ cao trong kỳ thi năm 1783. Tuy nhiên, giai đoạn đó triều đại vua Lê chúa Trịnh đang dần bước vào suy vi, kỷ cương lỏng lẻo, quan lại đồi bại, sĩ tốt kiêu loạn. 

            Nhận rõ thời cuộc và biết rằng chẳng thể làm gì có ích cho đời theo nghiệp bút nghiên, Đặng Trần Thường đã quyết định sẽ lập thân bằng nghề võ và đi khắp thiên hạ kết giao cùng các bậc hào kiệt và trí giả để cùng chờ thời. Trong thâm tâm ông chỉ mong ngóng có một minh quân để theo làm nghiệp lớn, ích nước lợi nhà.

            Tuy nhiên, sau rất nhiều lận đận, bôn ba, Đặng Trần Thường đã sớm hiểu ra rằng, cách hành xử dựa vào ngoại bang để khôi phục lại vương triều như của Lê Chiêu Thống sẽ không thể dẫn tới một kết cục tốt đẹp. Là con cháu một dòng họ chịu ơn sâu nặng của nhà Lê và họ Trịnh, Đặng Trần Thường dĩ nhiên là không thể dễ dàng lìa bỏ những tín điều trung quân truyền thống, nhưng ông cũng phải chịu sống ẩn dật không cộng tác với ông vua này… để rồi cuối cùng ông tìm đến Nguyễn Ánh.

            Tới năm 1808, Đặng Trần Thường đã được giữ Tổng lý đê chính Bắc Thành. Một năm sau, tháng 8/1809, Đặng Trần Thường được triệu về Phú Xuân để nhận chức Thượng thư rồi mới lại quay ra Bắc Thành thực thi công vụ. Tới năm 1810, có chiếu triệu ông về kinh đô Phú Xuân làm việc tại Bộ Binh. Đặng Trần Thường được giao làm sổ sắc phong cho bách thần.

            Chính khi ở đỉnh cao danh vọng mà Đặng Trần Thường đã bị sa cơ bởi những lời xúc xiểm. Tin theo lời Lê Chất là kẻ vốn có nhiều hiềm khích với ông, triều đình nhà Nguyễn đã xử treo cổ ông. Trong đại lao, Đặng Trần Thường không những không nhụt chí, mà vẫn uống rượu say túy lúy và làm cả một chùm thơ "Ngục trung bát vịnh". Ông cũng làm "Hàn vương Tôn phú", ví mình như Hàn Tín lập nhiều công tích trong chiến trận nhưng khi vinh hoa phú quý rồi thì bị Bái Công phụ rãy... Dĩ nhiên, hay tin này, vua Gia Long lại càng tức giận. 

            Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau. Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Khi trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm thét bảo Thường : 
            "Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác" . 
             Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo phò Nguyễn Phúc Ánh.

            Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó lại là Đặng Trần Thường.
            Vốn có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm : 
             "Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai ?
            (Vế đối hiểm hóc vì có 5 chữ ai và có chữ trần là tên đệm của Đặng Trần Thường).

             Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp : 
             "Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế !"
            (Vế đối lại cũng có 5 chữ thế, nói lên được hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng. Và vế đối cũng có chữ thời là tên đệm của Ngô Thời Nhiệm).
            Hai câu đối nhau chan chát, cực kỳ chỉnh không sai trật một ly.

            Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu nói "thế đành theo thế " (hay thế thời theo thế hoặc là thế thì phải thế). Ngô Thì Nhậm không nói lại. Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh ông.

            Sau trận đòn về nhà, Ngô Thì Nhậm bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ, biết mình không qua khỏi, trước khi qua đời ông có làm bài thơ gửi tặng Đặng Trần Thường như sau :
            Ai tai Đặng Trần Thường 
            Chân như yến xử đường 
            Vị Ương cung cố sự 
            Diệc nhĩ thị thu trường. 
            Nghĩa là : Thương thay Đặng Trần Thường. Nay quyền thế lắm đấy, nhưng khác nào như chim yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn đến nơi. Giống như Hàn Tín giúp Hán Cao tổ, rồi bị Cao tổ giết ở cung Vị Ương. Kết cục của ngươi rồi cũng thế đó. 
            Tạm dịch: 
            Thương thay Đặng Trần Thường 
            Tổ yến nhà xử đường 
            Vị Ương cung chuyện cũ 
            Tránh sao kiếp tai ương?
            Quả nhiên sau này bài thơ ứng nghiệm, Thường bị Gia Long xử tử. 

           Đặng TrầnThường bị xử giảo, cũng vì chuyện thù hằng của ông quan Lê Chất. Ông nầy bầm gan tím ruột sau khi nghe nói lại lời Đặng Trần Thường thốt lên lúc hay tin Lê Chất được phong tước quận công : "Chất mà là quận công thì bọn ta phải đáng đến mười lần quận công!". Chính Lê Chất về sau đã xúc xiểm để Gia Long buộc cho Đặng Trần Thường tội "dối người, lừa thần, dám làm những việc không ai dám làm cả". Thực ra những vụ việc mà Đặng Trần Thường bị buộc là có tội chỉ là những sơ sẩy hành chính nhỏ, quá nhỏ nếu so với những võ công mà ông đã lập nên cho triều Nguyễn. Nhưng kiêu ngạo vì quá cậy tài và tâm địa xâu xa nên bị hậu quả tai hại !
            (Sưu tập và biên soạn từ Internet : trích ở nguồn Newvietart.com).

            Kết luận, tôi xin trích bài thơ của cụ Nguyễn Du ở trang cuối chuyện "Kim Vân Kiều" :         

            Ngẫm hay muôn sự tại trời,
            Trời kia đã bắt làm người có thân.
            Bắt phong trần phãi phong trần,
            Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
            Chằng hay thiên vị người nào,
            Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
            Có tài mà cậy chi tài,
            Chữ tài liền với chữ tai một vần.
            Đã mang lấy nhiệp vào thân,
            Củmg đừng trách lẩn trời gần trời xa,
            Thiện căn ở tại lòng ta,
            Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

            LÊ-ĐÌNH Tuế
            Lausanne,
            Mùa thu 2013.