Ký uc hoc sinh

                  (Ký ức của một cậu học sinh miền Trung Việt Nam dưới thời Pháp thuộc)

            Mùa thu năm 1929, Nguyên vừa lên bảy, được nhận vào lớp Năm đồng ấu trường tiểu học Thế Dạ (viết tắt cûa hai danh từ Lại Thế và Vy Dạ). Trường nằm ở phía đông bắc trung tâm thành phố Huế.
            Buổi sáng ấy, Nguyên lên xe kéo với cha đến trường học cách nhà khoảng 1,5 cây số. Xe đến trước cổng một công thự mới xây 3 căn trên mảnh đất bên bờ sông Hương, nằm giữa đường thuộc địa số 1 và mảnh đồng bắp.
            Nguyên theo ông thân sinh đến gặp ông Hiệu trưởng đồng thời cũng là giáo viên lớp Ba. Sau khi hỏi tên tuổi, thầy vỗ nhẹ vào đầu cậu rồi quay lại trao đổi vài câu với khách. Sau đó ông dẫn đến lớp Năm ở căn thứ ba phòng cuối của trường.
            Vừa bước chân vào lớp, Nguyên tưởng như mình lạc vào giữa một cái chợ. Trong một cảnh tượng ồn ào khó tả, thầy giáo đang liên tiếp đập chiếc thước gỗ lên bàn để giữ trật tự. Thầy giáo ngừng tay để chào và nói chuyện với ông cụ trong lúc Nguyên đưa mắt nhìn quanh. Cậu thấy một phòng rộng rãi mỗi bên hai cửa sổ, hai dãy bàn dài, mỗi dãy tám chiếc làm bằng gỗ đen và trên mỗi bàn có 5 đến 6 trò.
            Sau khi ông cụ ra xe lên Sở làm việc, thầy giáo quay lại nhìn Nguyên và nói : "Con hãy tìm một chỗ ngồi đi". Nguyên nhìn các bàn đầu chỉ thấy có 4 hoặc 5 trò nhưng những bàn cuối 1ớp lại có đến 6. Cậu lựa bàn thứ ba hiện có 4 trò đồng tuổi và đến ngồi bên cạnh một người bạn hàng xóm vừa nhận ra. Nguyên thấy hai dãy đầu chi có toàn học trò nữ, nhưng dãy cuối lớp lai là những học sinh cao to và đứa lớn nhất cũng gần 15 tuổi. Lệ thường tuổi chính thức bắt đầu đi học là 7, tai sao nhà trường lại chấp nhận cả những học sinh lớn tuổi ? Cậu chưa biết rằng trường làng không hề giới hạn tuổi nhập học.
            Nguyên là một cậu bé rất hiếu kỳ.  Đối với mỗi sự  vật hay sự việc cậu luôn đặt câu hỏi
như thế nào và tại sao. Câu luôn quấy rối cha mẹ với đũ loại câu hỏi. Nhung đôi khi cậu cũng
muốn tìm lấy câu trả lời. Cậu còn nhớ, hồi 5 tuổi, môt người anh họ đã tặng cậu môt chiếc xe hơi nhỏ có bộ phận lên dây cót bằng chìa khóa. Cậu thắc mắc muốn biết tai sao chiếc xe nhỏ lại có thể tự động và cậu đã tháo rời từng bộ phận ra. Buổi chiều đó, khi người anh hỏi về món đồ chơi, Nguyên dẫn anh ra vườn và chỉ cho ông anh thấy một đống đất nhỏ, nấm mồ chôn xác chiếc xe cùng các bộ phận rời rạc.
            Tiếng đặp điên tai của cái thước gỗ đã kéo Nguyên ra khỏi giấc mơ. Ngồi ở bàn trên bục giảng, thầy giáo muốn giữ yên tĩnh để điểm danh. Mỗi khi nghe đến tên mình, học trò phải đứng dậy và trả lời bằng tiếng Pháp, tuy chưa bắc đầu học : "Présent !". Sau khi điểm danh, thầy giáo viết lên góc trên cùng bên phải chiếc bảng đen :
            "Ngày 15 thàng 9 nâm 1929, Sĩ số: 90, Khiếm diện : 0."
            Hôm nay là ngày khai giảng năm học mới, sau này công việc điểm danh và ghi lên bảng sẻ do trưởng lớp - gọi là "major" - phụ trách.

            Tiếng ồn ào lại bắt đầu, thầy giáo liên tục gõ thước xuống bàn, và kêu bằng tiếng Phâp : "Silence ! Silence !". Nhưng cứ năm phút sau, mọi việc lại trở về như trước.
            Đám trẻ hình như không có thể giữ yên lặng được lâu và Nguyên củng không kém chúng. Cậu quay sang đứa bên cạnh kể những kỷ niệm ngày hè cûa mình. Các học sinh khác cũng vậy, thậm chí chúng còn quay sang dãy bên kia để bắt chuyện với nhau.

            Thật khó bắt buộc những đứa trẻ tầm tuổi này giữ được yên tĩnh quá 5-10 phút. Thêm nữa, chương trình học thời ấy lại rất nặng: buổi sáng học 4 môn từ 8 đến 12 giờ, buổi chiều thêm 4 môn khác từ 14 đến 18 giờ. Sau 2 môn học được nghỉ chơi 15 phút ( mỗi ngày 30 phút). Năm ngày, cọng thêm nửa buổi sáng ngày thứ năm, tổng cọng là 44 giờ trong 1 tuần lể, lại thêm 2 g 30 (mỗi ngày 30 phút) thể dục hay trò chơi cuối ngày học.
            Các môn được dạy ở trường bao gồm : cách trí, địa dư; lịch sử, luân lý, vệ sinh, tập đọc, tập viết, chính tả, tập làm văn, tập làm toán, tập vẻ, tập hát,…
            Thời ấy, chưa có các hoạt động sáng tạo hay ngoại khóa. Chỉ có một chương trình chung, lịch học cũng như các môn học ít thay đổi trong suốt 6 năm tiểu học. chỉ thay đổi lần lần tiếng Việt sang tiếng Pháp, có năm phãi học hai thứ tiếng, càng ngày càng khó hơn. Học sinh học xong ba năm đầu của bậc tiểu học phãi qua một kỳ thi để  được cấp « Chứng chỉ Sơ học yếu lược ». Phần lớn học sinh không thể tiếp tục học tiếp bậc cao hơn do gia đình thiếu điều kiện tài chính, cũng như thiếu trường học. Tại thành phố Huế chỉ có 4 trườmg tiểu học có đủ 6 lớp, trong đó có Trường Giòng Pellerin (Thiên Chúa giáo). Chỉ một số ít học sinh có thể theo học 3 lớp tiểu học tiếp theo (đệ tam, đệ nhị, đệ nhất) để thi được « Chứng chỉ Tiểu học » (gọi là bằng Tiểu học).
            Dạy học 44 giờ mỗi tuần, không kể thời gian chuẩn bị cũng như sửa chữa bài tập, trong suốt 9 tháng (trừ thời gian nghỉ lễ) thực là một công việc quá nặng nề đối với các thầy giáo tiểu học. Thêm vào đó, số lượng học sinh rất đông (ở các trường nông thôn, sĩ số trong mỗi lớp thường quá 90) gây ảnh hưởng không tốt cho sức khoẻ các giáo viên.

            Thầy giáo cũa Nguyên tên là Bửu La, một người thuộc dòng dõi Hoàng gia. Thầy trạc tuổi ông thân sinh c ủa Nguyên, vào khoàng 30, nhưng thầy luôn có nét mặt u buồn, không ngừng rầy la và nóng giận. Nguyên tự hỏi liệu có phải vì tên thầy là La có nghĩa là la mắng hay không ? Tuy thế thầy rất hiền lành và độ lượng, chưa hề trừng phạt học sinh nào.

            Nguyên dễ dàng bước qua năm học đầu tiên mà không cần phải cố gắng nhiều vì so với một số các bạn trong lớp mới bắt đầu học đọc và viết, Nguyên đã được biết trước nhiều. Có lẻ vì vậy mà Nguyên có nhiều thì giờ rảnh để nói chuyện với các bạn cùng bàn.

            Sang năm học thứ hai, chính thói quen khó bỏ này đã đem kết quã không tốt cho Nguyên. Thầy giáo lớp Tư, Ưng Miêu - cũng dòng dõi Hoàng gia - có một cách trừng phạt lạ kỳ. Trong lúc giảng bài, bất cứ học sinh nào động đậy, ồn ào nói chuyện, hay chỉ thầm thì, ông chỉ tay thẳng vào mặt và nói :"zéro" và anh trưởng lớp sẻ có trách nhiệm ghi "số 0" vào phần cột ghi điểm của môn đang học. Hiển nhiên là Nguyên, với cái miệng bép xép của mình, hầu như tuần nào cũng nhận được vài điểm "không". Còn ông cụ thân sinh của Nguyên thì không hiểu tại sao con trai mình, một trong những học sinh được xếp vào hạng khá trong tháng đầu, qua những tháng tiếp theo lại liên tiếp "đội sổ" và các điểm học của Nguyên thì cứ lên xuông thay đổi như hình răng cưa theo từng giai đoạn. Nhưng Nguyên không dám giải thích nguyên do cho ông cụ rỏ.

            Một hôm, Nguyên hỏi ông nội về nghĩa của chữ Miêu. "Theo tiếng Tàu thi Miêu còn có nghĩa là con mèo", ông trả lời. Hài lòng, Nguyên mỉm cười. "Cháu hỏi làm chi ?", ông hỏi khi nhận thấy vẻ mặt tinh nghịch của người cháu. Nguyên trả lời "Để cho biết !". Nhưng thực ra, Nguyên thầm nghĩ đã khám phá tính cách hành động của thầy giáo mình : "Ông ta rình mồi như một con mèo, Nguyên tự bảo, ông ta có biệt tài bắt lổi trong lúc bất ngờ. Ngay cả khi thấy ông đang nhìn hướng khác, ông ta có thể quay lại lập tức, lanh lẹn như con mèo chụp con chuộc".

            Cũng trong năm học này, Nguyên được tin thầy giáo củ, thầy Bửu La đã từ trần vì bệnh lao phổi. Ông cụ thân sinh dẫn Nguyên đến viếng tang. Quỳ gối trên chiếu, Nguyên vái lạy trước linh cữu người quá cố. Cậu vô cùng xúc động bởi những lời than khóc cùa người goá phụ mang khăn tang, mặc áo vải trắng và hình ảnh đau buồn này in sâu trong trí nhớ Nguyên.

            Nguyên nghĩ rằng chính công việc giảng dạy nặng nề này mà thầy giáo trước đã sớm lìa trần. Còn người thầy sau, tuy thái độ yên tĩnh và cách cho điểm kỳ cục dù có hiệu quã trong một thời, không làm rát cổ khan họng, đã tạm giúp thầy duy trì trật tự trong lớp, nhưng cuối cùng sau vài năm, thây cũng mắc phãi chứng bệnh hiểm nghèo kia.

            Một chuyện đáng nhớ đã xảy ra trong năm ấy. Hôm đó, trong lúc ra sân chơi trời đổ mưa, tất cả học trò liền vào tránh mưa dưới hiên nhà trường có nền cao khoảng 1 thuớc 2. Bổng nhiên một trò đưa ra khoe cuốn sách "Mẹo tiếng Việt" do ông Tống Viết Toại biên soạn. Ngay lập tức tất cả những đứa xung quanh chen lấn để nhìn thấy quyển sách mà chúng chưa bao giờ được nghe tên. Tính tò mò đã khiến Nguyên tiến lên phía trước, cậu vương cánh tay về phía quyển sách cho tới khi gần chạm vào nó. Lúc đó, với một cử chỉ bất ngờ, chủ nhân cuốn sâch hất tay đẩy Nguyên ra, và cậu này bị mất thăng bằng té xuông sân đất. Đứng dậy được, Nguyên bật khóc vì nhận thấy cánh tay trái khó động đậy, đau đớn như tay bị gãy. Trước mặt thầy giáo, tất cả học trò trong đám chen lấn ấy đã đứng ra làm chứng và kết tội cậu bé chủ nhân cuốn sách.
            Tối hôm ấy, Nguyên thấy "kẻ phạm lổi" đi theo người cha mặc áo đen dài, đầu bít khăn đen đến nhà mình. Ông này sụp quỳ xuống chân ông Cụ của Nguyên cầu xin mở lòng độ lượng cho con trai ông. Nó có nguy cơ bị đuổi học nếu tai nạn trên trở thành nghiêm trọng. Ông coi cụ thân sinh Nguyên - một quan chức chính phủ Bảo hộ - như là người có nhiều quyền lực đối với đa số quần chúng. Ông cụ của Nguyên liền đở ông ta dậy và hứa sẻ can thiệp với Hiệu trưởng trường. Một điều may mắn cho tất cả mọi người là Nguyên không bị gãy xương mà chỉ trẹo gân mà một ông "thầy mằn" ở trên làng Kim Long chỉ mất không đầy một phút để nắn lại. Thật kỳ diệu, Nguyên ngay sau lúc đó có thể co duỗi cánh tay mà không hề cảm thấy chút đau đớn gì cả.

            Sau chuyện không may đó, Nguyên không hề có chút oán trách câu bé lớn hơn 2 tuổi đã đẩy ngã mình và Nguyên củng không còn nhớ tên cậu ta nữa. Trong tự tâm, cậu biết mình cũng có một phần trách nhiệm, dù là rất nhỏ, trong chuyện này do bản tính tò mò của minh. Trong nhiều năm qua, cậu vẫn còn thấy chút xúc động khi nhớ lại hình ảnh người cha của câu bé đã chắp tay quỳ dưới chân cha minh, cúi đầu xuống đất cầu xin. Vì có lúc cậu cảm thấy ngượng ngùng được sống trong một giai cấp có đặc quyền. Vào độ tuổi đó, Nguyên thấy mình khao khát công bằng hơn là nhu yếu tình cảm, không biết có phải là vì ảnh hưởng của một gia đình nho giáo đông con, hướng về sự bình đẳng hơn là lòng luyến ái hay không ?.

            Một hôm, Nguyên nghe tiếng khóc thầm thì của người phu xe ở sau nhà. Đến gần, Xoắn - Nguyên vẫn còn nhớ tên - kể rằng đang nhớ gia đình vì đã từ lâu không gặp vợ con. Tò mò như mọi khi, Nguyên hỏi thăm về điều kiện sinh sống của người giúp việc. Với tiền làm công 3 đồng một năm, chỉ đủ trả thuế thân, anh ta được nuôi ăn, ở, và thêm 2 bộ quần áo vải mới, còn thỉnh thoảng củng nhận được chút tiền tiêu vặt tùy theo hào tâm cûa ông chû. Mỗi năm anh ta chỉ có, vài ngày nghỉ phép về thăm gia đình tại nơi thôn quê cách thành phố khoảng hai chục cây số). Còn mụ vợ ở nhà một mình phải tự xoay xở để nuôi đàn con dại.
            Khi Nguyên hỏi vì sao phải làm việc xa gia đình, Xoắn trả lời rằng công việc của một người đầy tớ tại thành phố nhẹ nhàng hơn nhiều, vi ở quê nhà, công việc đồng áng rất nặng nhọc. Không có ruộng nên phải đi cấy thuê, và sau khi trừ các khoản vay mướn phải nộp thi trong tay chi còn rất ít tiền, không đủ đóng thuế thân lên tới 3 đồng (mứt giá chung cho cả người giàu và người nghèo). Thêm nữa, Xoắn còn buộc phải đi làm phu cho các chính quyền huyện, tổng, cũng như làng, xây dựng đường xá, phục vụ quan lại trong ngày lẽ hội và làm các công việc khác mà không hề được trả công chút nào. Chỉ được hưởng chút đồ ăn thừa.
            Anh ta còn phải chờ lâu nữa, ít nhất là đến cuối năm thì mới gặp được vợ và hai con. Tất nhiên, vì buồn lây hay quá xúc động, Nguyên cùng khóc theo người phu xe.

         Người cậu em mẹ của Nguyên, tên là Tồn, từng nói rằng Nguyên không hề có chút tình cảm, vì một lần đã trông thấy cháu nhỏ cầm dao chặt đôi con ve ve, vì muốn biết tiếng kêu của nó phát ra từ đâu ? Thất vọng khi chỉ thấy một cái bụng trống mà thôi, Nguyên hứa với cậu sẻ không bao giờ làm như vậy nữa.
            Tính hiếu kỳ khó sửa ấy đã có lần đem đến cho Nguyên một trận roi mây cûa ông thân sinh. Nguyên đã lấy một trong hai cục điện của chiếc đèn soi để tìm hiểu xem ánh sáng phát ra từ đâu ?. Với chiếc búa nhỏ trong tay, cậu đã chặt đôi cục điện ra nhưng chỉ thấy một lõi than đen nằm trong một hợp chất dẻo. Sự thất vọng còn lớn hơn nỗi đau với chiếc roi mây. Cậu ta phải cắn răng mà chịu, không một tiếng kêu như mọi lần khác, bởi cậu biết rằng cậu đáng bị phạt đòn.

            Người phu xe Xoắn được nghỉ một tuần để về quê chăm sóc người vợ lâm bệnh nặng. Vì vào dịp nghỉ hè nên Nguyên có dịp làm thân với người phu kéo thay thế cho Xoắn, nhất là khi Nguyên nhận thấy người này hút thuốc phiện sau khi hết giờ làm việc. Trong sách giáo khoa "Vệ sinh" ở lớp, đã có lời khuyên rằng (cho học sinh tầm 8-9 tuổi) là không nên uống rượu, không nên hút thuốc phiện. Nguyên còn nhớ các lời khuyên khác như : "không nên ăn nhiều thịt và trứng, không nên đứng trước luồng gió khi người còn tẩm mồ hôi, …". Quyển sách đó còn mô tả người nghiện thuốc phiện thường có tai dẹp và vai trun cổ rụt, vi phải luôn nằm dài người để hút xách.

            Nguyên ngạc nhiên khi thấy người phu kéo xe mới không có các dấu hiệu đặc biệt trên, và theo thói quen tò mò, cậu hỏi lý do tai sao. Người phu xe nói rằng vì mới bị sốt rét cách đây vài năm nên anh ta chỉ bắt đầu hút từ thuở đó, và thuốc phiện giúp anh ta chống đỡ được phần nào vì làm giảm bớt những lần lên cơn.
            Nguyên thấy mình bắt đầu quen với "mùi hương" nha phiến vì thấy nó không ngặc mũi như khói thuốc lá mà cậu vẫn ghét. Có lẽ do đó một phần nào mà cậu thường chạy đến chuyện vãn với người phu xe.

            Một hôm, vì mỏi mệt, người phu xe nhờ Nguyên đi mua dùm thuốc phiện. Nguyên liền nhân lời đi đến một cửa hàng cách nhà độ 300 thước tây, nằm ở phía bên kia thành phố. Đó là cửa hàng lớn nhất trong vùng, nơi mà người dân lân cận có thể mua được tất cả các thứ hàng hoá, kể cả những loại hàng thuộc độc quyền phân phối của chính quyền Pháp như muối, diêm và thuốc phiện. (Chủ nhân cửa hàng là thân sinh nhà văn thơ Trần Thanh Tịnh, lúc ấy còn là sinh viên).
            Cửa hàng đó nằm ở một khúc quanh trên đường số 1, gần bến đò chợ Dinh, thường là nơi tụ tập của mọi lớp người mà phân đông rất thô lỗ, suốt ngày chỉ biết chưởi bới lẫn nhau. Sau khi đã mua được một hộp nhỏ tròn bằng thiết đựng thuốc phiện, đang sửa soan ra về bỗng Nguyên chú ý đến một đám đông ồn ào la hét. Một người phụ nữ lớn tuổi đang chưởi bới, gọi đến cả ba đời họ kè trộm hàng của mình - dù chưa biết là ai ! - mà lại còn đe dọa là sẻ bỏ nó trong quần bà ta, và liên tục hạ xuống hay kéo chiếc quần lên. Đứng giữa đám đông hiếu kỳ,
            Nguyên tự hỏi làm sao bà ta có thể nhét chú ăn trộm vào trong quần được ? Nguyên há mồm trước cảnh tượng này và chờ đợi lúc quần của bà tụt xuống ! Trong khi ấy, đang lên cơn thèm thuốc và lo lắng vì Nguyên về chậm, người phu xe chạy đi tìm, kéo cậu ra khỏi đám đông và dực lấy hộp thuốc phiện quý giá.

            Tuy bị điểm số thất thường, Nguyên vẩn dể dàng được lên lớp 3. Thây giáo mới, Nguyễn Phùng, học sinh gọi là thầy Đốc Phùng, vốn nổi tiếng nghiêm khắc nhất trong các thầy giáo khác. Thầy không la hét trong lớp, nhưng giữ trật tự bằng những đòn roi mây đau điếng. Lớp học tự nhiên yên tĩnh như thể mọi học sinh đều nín thở cùng một lúc (Trái với hai thầy giáo xấu số ở lớp dưới đã mất sớm, thầy giáo này chỉ từ biệt cõi trần vào tuổi 90).
            Thầy biết cách lôi kéo học sinh bằng những câu chuyện hằng ngày. Ở vào tầm tuổi lên 9, Nguyên và các bạn cảm thấy được đối xử như người lớn. "À ! các trò có biết, trên thực tế 2 với 2 không khi nào thành ra 4 không ?". Đó là câu kết luận của thầy khi kể xong mấy câu chuyện dài thông thường mà Nguyên không còn nhớ nữa. Tuy nhiên, nhờ trực giác, thông qua những ví dụ mà cha mẹ hay những người lớn khác đưa ra, Nguyên đã hiểu bài học triết lý đầu tiên đó. Cậu củng nhận thấy rằng đa số người lớn đều không làm đúng những điều họ nói, hay những điều họ cấm trẻ con làm. Họ không hề biết "công bằng" là gì !

            Nguyên rất thích nói chuyện với nhóm học trò lớn tuổi trong lớp. Chúng nó luôn có nhiều chuyện thú vị kể cho nhau nghe và thường tránh bọn học trò nhỏ tuổi quá tò mò. Một hôm Nguyên rất ngạc nhiên khi nghe câu chuyện về người thầy "đáng kính và đáng sợ" cûa mình : Thầy thường đi chơi trên những chiếc thuyền nhỏ đậu bên đê Đập đá (đê xây bằng đá chặn ngang một nhánh sông Hương). Những chiếc thuyền ấy là nơi các cô "gái ăn sương" đưa khách làng chơi du ngoạn trên sông.

            Một vài ngày sau đó, trong khi trò chuyện về đời sống hằng ngày, thầy giáo nói với một giọng tự nhiên : "Các trò có biết không ? Các cô gái mua vui mà mọi người khinh dễ là những người vô tội, họ không hề làm hại ai cã. So với một số nhà sư tu hành, họ còn mắc ít tội lỗi hơn". Có lẻ thầy muốn đưa thêm một bài học triết lý khác cho cả lớp, nhưng đám học trò chỉ cười thầm với nhau, bọn trẻ ranh không dễ bị mắc lừa.
            Và Nguyên tự hỏi sao thầy lại có thể biết rỏ những tiếng đồn liên quan đến thầy như vậy ? Chắc chắn là do lời thuật lại cûa con gái thầy, hoc cùng lớp với Nguyên. Cậu ta còn nhớ một cô gái xinh tươi luôn liếc mắt đưa tình với những đứa học trò lớn tuổi hơn. Một lân, thầy đã giáng cho con gái một cái bạt tai mạnh đén nỗi làm cô té lăn xuống đất. Thầy hét lên trước tất cả đám học trò trong giờ ra chơi : "Mi không biét xấu hà ! Con nhà mà tánh lã lơi như một con đĩ !". Nguyên sững sờ. Cậu thấy thầy không "công bằng" và mâu thuẫn, vì trước đây thầy đã lên tiếng binh vực những "con người vô tội" đó.

            Cùng trong năm học đã xảy ra một sự kiện đáng ghi nhớ. Sáng hôm ây, trong buôi lễ chào cờ, một vị thanh tra người Pháp đến gắn "Huy chương giáo dục" lên ngực thầy Hiệu trưởng nhà trường, trước mặt tất cả các học sinh ba lớp. Một phần, Nguyên cảm thấy hãnh diện vê thầy giáo của mình. Phần khác, cậu thầm hỏi : theo những câu chuyên đã từng nghe nói và tận nhìn, cái mề đay ấy liệu có xứng đáng không ?

            Lại thêm một kỷ niệm khó quên trong đời học trô. Tình cờ vào một buổi sáng đi học, Nguyên đã chứng kiến một vụ cháy xe trên con đường số 1, lúc đó còn rất thưa người. Một chiếc xe hơi chạy vượt lên rồi dừng lại gữa đưởng, trước mặt cậu chừng 100 thước tây. Tò mò Nguyên chạy đến xem. Còn xa, cậu thấy người lái xe bước ra, mở nắp đầu máy rồi cúi xuống ngó vào. Độ một phút sau, Nguyên thấy một làn khói dày đặc bắt đầu bốc lên. Người lái xe mặc áo dài khăn xếp đen ngồi xuống, đặp đầu trên nền nhựa và kêu gào : "Trời ơi ! đất hởi ! ba triệu đồng của tôi đã cháy tan thành khói rồi !". Lời kêu than của ông ta đã thu hút vài người chạy đến xem. Còn Nguyên vội vàng bước mau đến trường để kịp lễ chào cờ.
            Tối đến, Nguyên kể rỏ cho ông thân sinh vụ xe cháy buổi sáng. Ông chăm chú lắng nghe trường hợp xảy ra lúc xe cháy. Sở Liêm phóng Trung phần, ở cạnh Tòa Khâm sứ - nơi ông đang phục vụ - nghi ngờ rằng đó là một hành vi có tính toán từ trước. Ông Tri huyện lái xe là người có trách nhiệm thu thuế cho chính quyền Pháp, củng là một kẻ ham mê cờ bạc, nợ ngập đầu ngập cổ. Ông ta khai báo rằng chiếc xe hơi bốc cháy khi đang chạy và ông ta buộc phải nhảy ra ngoài để tránh xe cháy. Trái lại, Nguyên đã nhìn rỏ cảnh tượng đám cháy từ khoảng cách khá gần. Chiếc xe không hề bốc cháy khi nó chạy vượt lên, và khi làn khói đen bốc lên từ đầu xe, người lái xe không làm gì để cứu thoát số tiền trong xe ra. Ông ta chỉ lập tức đập đầu xuống đất để kêu van nỗi bất hạnh của mình. Cuối cùng, sau khi cuộc điều tra kết thúc, số tiền bị cháy chỉ là một phần rất nhỏ trong hàng trăm nghìn đồng gói trong các tờ giấy báo. Nguyên hỏi ông thân sinh : "Làm sao người ta có thể biết có bao nhiêu tiền đã bị cháy trong đống tro tàn kia ?". "Nhờ đếm số kim để ghim các tập giấy bạc", ông cụ trả lời. Tuy tự hào là nhân chứng quan trọng của vụ án, Nguyên hơi thất vọng khi nhận thấy cậu chỉ giữ một vai trò nhỏ bé trong việc ấy.

            Gia đình Nguyên sống cách chùa Ba-La chỉ vài bước chân, nhưng cha mẹ cậu không phải là Phật tử chuyên cần. Tuy vậy, một hôm ông thân sinh dẫn cả 5 con trai đến gặp thầy Trụ trì chùa - thầy Thích Trí Thủ - để làm lễ "Quy y". Đó là một lễ nhỏ riêng bên chùa để được chấp nhận vào hàng đệ tử Phật và tại buổi lễ này, mỗi phật tử đều nhận được một pháp danh. Trong tiếng gõ mõ tụng kinh, năm câu trai quỳ vái lạy trước bàn thờ, trán chạm xuống chiếu trải trên nền gạch. Trong khi đó, Nguyên lén mắt nhìn lên bức tượng Phật lớn mạ vàng, miệng mỉm cười, mắt nhắm lại như đang trầm tư tịnh độ. Ở ngay hàng dưới còn có hai bức tượng khác nhỏ hơn : Bên trái là bức tượng có khuôn mặt hồng hào, ánh mắt từ thiện, còn bên phài là bức tượng mặt đỏ dữ tợn. Trong chuyến thăm chùa lần trước, người cậu của Nguyên đã giải thích rằng bên trái là bức tượng ông Thiện và bên mặt là ông Ác.
            Nguyên không có chút cảm xúc riêng biệt nào về buổi lễ. Cậu chỉ tự hỏi tại sao mình lại phải quỳ lạy ông thần Ác đã được đặt trên bàn thờ cùng với đức Phật và ông Thiện ? Trên đường về nhà, Nguyên đã đem thắc mắc này hỏi ông thân sinh.

            Ông cụ phân vân một hồi rồi trả lời : "Sau này lớn lên, con sẻ hiểu". Buổi tối, ở bên kia căn phòng, Nguyên trộm nghe cha kể lai cho mẹ câu chuyện buổi sáng. Bà mẹ cho rằng câu hỏi của Nguyên hết sứt vô nghĩa và bà nói : "Thằng con này cứng đầu cứng cổ, không chịu nghe lời ai, sau này ra đời nó sẻ không làm chi nên thân". Ông cha trả lời : "Với tuổi nó, cần phải kiên nhẫn". Tai sao mẹ không đồng ý nghĩ với cha ?. Có lẻ bà chỉ biết tin theo câu tục ngữ thời ấy, mà Nguyên đã nghe nhàm tai :
            "Cá không ăn muối cá ương,
            Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư !"
            Bà rất khắt khe chỉ yêu quý những đứa con ngoan ngoãn biết nghe lời, đặt đâu ngồi đấy. Vốn là kẻ cứng đầu nhất trong năm đứa con, Nguyên thấy mẹ không "công bằng" chút nào. Tuy nhiên cậu vẫn yêu mẹ và muốn làm một điều gì đó để tỏ rỏ tình thương của mình.

            Và cơ hội đã đến khi một ngày kia Nguyên nghe thấy mẹ phàn nàn riêng với cha rằng ông thầy địa lý, người đã từng giúp việc cho nhà ta một hai lần trước, thường lạm dụng lòng hiếu khách của chủ nhà. Ông thầy địa, sinh sống ở Nghệ An, một tỉnh phía Bắc miên Trung, mỗi khi có việc phải đến kinh đô, đều đến nhà ta mà không hề báo trước. Bà đón tiếp ông ta vì bà biết ông nội của Nguyên có dịp bàn chuyện văn thơ Á Đông và đặc biệt là y học Trung Hoa. Trong các lần khác, thường kéo dài một tuần lễ, ông ta chỉ đem thêm phiền phức đến cho bà. Vì với tư cách chủ nhà, bà phải chuẫn bị chỗ ăn nằm tiêm tất, cùng cơm nước hằng ngày thịnh soạn như ngày có giỗ để đón tiếp, dù ông ta không phải là một người bà con thân cận.

            Nguyên nhận thấy điều đó thật là phi lý, (luôn theo ý niệm "công bằng" của cậu). Tại sao ông ta không ở ngay tại nhà các khách hàng của ông ta, mà cứ coi nhà cha mẹ mình như một nơi trú chân thường xuyên ? Môt hôm, Nguyên thấy gần gường ông một cái hộp bên trong đựng một đồng tiền vàng buộc vào một dãi dây băng đỏ vàng. Lại thêm một huy chương nữa cho kẻ không đáng hưởng !, Nguyên thầm nhủ. Liền sau đó, cậu đem ném nó xuống sông Hương phía trước mặt nhà. Cậu ta không coi đó như là một việc cấm làm mà là một hành vi tốt nhằm giúp mẹ mình. Tuy thế, vài tháng sau, ông thầy địa vẩn trở lại. Lần này Nguyên tìm cách khác có hiệu nghiệm hơn trước. Cậu lén giấu chiếc hộp gỗ đen - ở giữa có một hình tròn nhỏ bằng đồng - trên mặt có khắc những dấu hiệu và vài hàng chữ Hán. Trí tò mò của cậu lại nổi lên khi nhìn thấy vật tròn có chiếc kim bên trong, tuy di chuyễn không ngừng nhưng lại luôn luôn chỉ theo một hướng nhất định. Cậu bèn lấy con dao nhíp mở hộp đựng chiếc kim kỳ lạ. Mặt gương tròn bật lên và chiếc kim rời ra không động đậy. Chả có gì huyền bí cả ! Nguyên bực mình ném tất cả xuống sông Hương như lần trrước đã làm với chiếc huy chương. Ông thầy địa hỏi đi hỏi lại anh em Nguyên nhiều lần, xem ai có tình cờ nhìn thấy chiếc địa bàn của ông ta hay không ? Và sau cùng, chẳng có kết quả, ông thầy địa từ biệt mãi mãi ngôi nhà mà ông ta chắc rằng đã chứa chấp một con yêu tinh nghịch ngợm !

            Kết thúc năm học, Nguyên đi thi lấy chứng chỉ "Sơ học yếu lược". Kỳ thi này diễn ra tại thị trấn huyện Phú Vang, nơi tập trung giám khảo của tất cả các trường tiểu học trong vùng. Thực ra mà nói, đó là một kỳ thi tuyển lựa thì đúng hơn. Nguyên được ông thân sinh cho biết rằng chứng chỉ ấy - gọi là bằng cấp - sẻ giúp cho người sở hữu một vị trí cấp bậc trong làng mình sống và được miễn tất cả các loại phục dịch của xã hay huyện. Tuy chỉ là một chức vụ hạ tầng, người nầy có thể - sau một thời gian và có người đở đầu - xin được một chức hàm cửu phẩm - hàm cuối trong triều đình, đễ về làng có thể hạch sách đám bạch đinh vô học. Chính vì vậy mà số lượng người lớn tuổi đi thi không ít, và có khi hai cha con cùng đi thi một lược.

            Nguyên ngồi xe kéo cùng cha đến địa điểm thi ở Phú Vang. Cậu cảm thấy rất hồi hộp trong lần đầu tiên đấu trí cùng những học sinh trong huyện lỵ. Để giữ bình tĩnh, cậu đáo mắt nhìn quanh, tìm kiếm trong đám đông một khuôn mặt quen của một bạn cùng lớp, nhưng vô ích, có hàng trăm thí sinh tụ họp về đây và một vài người trong số đó có dáng dấp cao lớn như giám khảo. Lẫn trong đám đông ồn ào này nổi lên tiếng rao dạo của những người bán hàng rong, chả thịt hay xôi cháo …
            Kết quả của kỳ thi này được công bố một tuần sau đó. Nguyên rất vui mừng khi thấy tên mình trong danh sách những thí sinh đỗ, khi xung quanh cậu, một vài người cha mẹ của các trò thi trượt đang dỗ dành an ủi những đứa con đang sụt sùi khóc.

            Mùa thu năm 1932, với chứng chỉ trên, Nguyên được nhận vào lớp "Nhì 1" của trường tiểu học Chaigneau, một trường ở cạnh nhà Bưu điện trung tâm thành phố. Thây giâo lớp là ông Ưng Quyền, đồng thời củng là hiệu trưởng nhà trường. Nguyên cảm thấy vui thích khi lớp học chỉ có độ 50 học sinh và trường mới có sân chơi rộng rải, có nhà vệ sinh riêng chứ không như trường Vỹ Dạ trước, muôn "đi ngoài" phải chạy ra mảnh đồng sát bên sông Hương.

            Vì trường học mới cách nhà độ 5 cây số nên Nguyên ăn cơm trưa ở nhà bà Cô của cậu, xa trường học gần 800 thước trên con đường đầy hột mù u. Người chị cả của cha, với một cô giáo người Quãng Ngãi, phụ trách Nữ Công Nông Học Hội, dưới sự điều khiển của bà Đạm Phương Nguyễn Khoa, chủ bút tờ báo "Phụ Nữ Tân Văn" ở miền Trung. Cô họ cụ thân sinh của Nguyên, bà là một trong những người đầu tiên dẫn hướng cho phong trào giãi phóng phụ nữ ở Á châu (Bà là thân mẫu nhà cách mệnh Nguyễn Hãi Triều).

            Trường Nữ Công nối với nhà ở thông qua một hành lang. Nguyên rất thích đến phòng học mỗi khi ăn cơm xong. Đáng lẻ phải ngủ trưa, cậu chỉ thích lục lọi từng giá sách của thư viện trường. Có rất nhiều các loại sách khác nhau bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và các tác phẩm dịch từ tiếng nước ngoài như : Pháp, Trung hoa, Nhật bổn, Nga xô, vv... Cậu còn nhớ vài tên sách do Nguyễn văn Vỉnh phiên dịch như "Những kẻ khốn nạn" của Victor Hugo, "Ông cha Goriot" của Balzac, "Hòa bình và Chiến tranh" của Tolstoï. Nguyên chỉ đọc lược qua không quá trang đầu. Nguyên thường chú ý đến ngăn tạp chí khoa học ứng dụng về vật lý, điện tử, cơ khí. Nhưng mặc dầu sẵn tính hiếu kỳ, cậu không tài nào hiểu nổi phần lớn các môn học ấy, chỉ làm được vài thí nghiệm đơn giản mà thôi.
            Một hôm Nguyên tìm thấy bản dịch một cuốn sách dày về "Khoa học huyền bí" trong dô có mục dạy về thôi miên. Ngay lập tức cậu đứng trước giá gương luyện tập, thử nghiệm một mình. Thêm nữa, câu thực hành các bài học về tập trung tư tưởng hay bài tập luyện trí nhớ mà cậu đem áp dụng ở lớp học và thường xuyên thực hành, ngay cả khi đi trên đường về nhà. Cậu coi đó như là một trò chơi thú vị.

            Thầy hiệu trưởng trường Chaigneau cũng là giáo viên của lớp, thường hay vắng mặt ở lớp để đến văn phòng, nằm ngay vào gian đầu nhà trường. Trong lúc đó, thầy giao bài tập cho cả lớp làm rồi phó anh trưởng lớp giám sát và giữ trật tự. Nguyên thừa dịp ấy để lén đọc các tiểu thuyết kiếm hiệp như Thủy Hử, hay lịch sử mô tả các vị anh hùng thời chiến quốc Trung hoa như Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc, hay cả những truyện huyền hoặc như Liểu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh với hình ảnh các nho sĩ luôn bị hồ ly quyến dỗ.

            Một nhà xuất bản Hà Nội có sáng kiến chia những bộ truyện này thành nhiếu tập và xuất bản dưới dạng tập truyện mõng khoảng 32 trang, gọi là phụ bản kèm theo tạp chí văn học, nhưng có thể được bán riêng biệt. Nguyên đã chi tiêu phần lớn số tiền túi để mua đọc. Cậu giấu những phụ trang ấy giữa lòng các quyển sách hay vở trên bàn lớp để có thể tự do thưởng thức văn chương ngoại lệ mà vẫn giữ thái độ của một học sinh chăm chú.

            Đến cuối năm, Nguyên dễ dàng lên lớp Nhì 2, chẳng gặp chút trở ngại nào. Nhưng không may, trò láo lỉnh của cậu không qua khỏi mắt thầy Hà Huy Bằng. Cẩn thận như loài mèo mặc dầu vẻ ngoài vô hại và thờ ơ, thầy làm Nguyên nhớ lại thầy giáo quá cố Ưng Miêu từng dạy Cậu ở lớp tư đồng ấu. Quả vậy, thầy này áp dụng một cách cho điểm phạt kỳ cục như thầy Ưng Miêu. Mỗi lần Nguyên dính mũi vào tập truyện mà không nhắc lại được những lời gì thầy vừa giảng trên bảng đen, thầy chỉ tay vào cậu và bình tĩnh nói "1 point" (trong khi thầy giáo củ cho "0 point".). Trưởng lớp vội vã ghi vào trong sổ tính điểm hàng tháng.

            Nguyên chỉ thích các môn học chính về tiếng Việt và tiếng Pháp : chính tả, luận văn, toán học cũng như lịch sử Việt Nam. Trái lại, cậu thường không mấy quan tâm đến các môn mà cậu cho là ít quan trọng như địa dư, luân lý, vệ sinh, sinh vật học và môn vẽ. Và cũng vì tất cả các môn đều cùng một giá trị về điểm số, thêm vào đó khá nhiều điểm 1 nhận được trong tuần lể mà Nguyên đã trở thành một trong những học sinh "đội sổ" trong bảng xếp hạng hàng tháng. Ngoài ra cậu còn bị ghi trên sổ : "học sinh lơ đễnh, không biết nghe lời và hạnh kiểm sút kém". Nguyên thấy sự nhận xét đó thật là bất công. Tuy cậu có những điểm kém nhưng cậu luôn tuân theo trật tự trong lớp, không nói chuyện riêng, không đánh, cãi nhau vói bạn học. Trong giờ ra chơi lúc nào cậu cũng ngồi đọc sách bên một góc sân.

            Thật là một chuyện rất khó hiểu cho ông cụ thân sinh Nguyên. Trong mỗi độ nghỉ hè, ông thường mời môt gia sư để dạy thêm cho năm con trai của mình cọng thêm một vài trẻ hàng xóm. Người gia sư đó được nuôi ăn, ở trong gia đình và dạy năm buổi sáng một tuần, liên tiếp trong 3 tháng. Hiển nhiên là khi không phải học các môn phụ, kết quả học tập của Nguyên khá tốt - như toán pháp, chính tả, luận văn (Việt và Pháp) - phần nhiều còn cao hơn những đứa trè cùng tuổi có điểm số ở lớp đứng trước Nguyên.

            Mặc dầu, Nguyên lúc 12 tuổi với môt số nhiều "điểm 1" bị buộc phải học lại lớp Nhì 2 do sổ ghi những kết quả sai lầm không đúng với thực lực của cậu. Năm học có một thầy giáo thay thế thầy trước đang nằm bệnh viện lao. Tuy vậv cậu không yên thân được lâu vì thầy giáo mới Mai Duy Thuật tỏ ra mưu mẹo hơn thầy Hà Huy Bằng trưóc. Thầy dể dàng tìm ra chổ hớ, như thể ông ta đã có tiền ý muốn trừng phạt Nguyên. Nhưng cậu này cứ vô cùng say mê không tài nào dứt bỏ nhửng trang sách đã đem lại cho cậu biết bao niềm vui thích. Cậu còn tìm thấy trong thư viện của Hội Nữ công cuốn tiểu thuyết "Robinson Crusoé" của Daniel Defoe cùng hai cuốn khác là "Paul et Virginie" của Bernardin de Saint Pierre và cuốn "Graziella" của Lamartine. Cậu thú vị đặt mình vào địa vi ông thám hiểm trên đảo vắng, và cảm xúc với các nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết sau. Đôi khi đọc qua nhiều chương, cận không cầm được nước mắt. Tuy nhiên, trên mặt tâm tư cậu chưa hề biết tình yêu là gì, cậu chỉ có thể tưởng tượng qua mơ mộng mà mà thôi !

            Ở nhà bà cô ăn trưa, Nguyên nhìn thấy một nữ sinh tầm tuổi cậu. Một hôm, cô giáo trường Nữ Công nói đùa rằng cô gái ấy và cậu xem có vẻ xứng đôi. Rất ngây thơ khờ khạo, lời nói chơi ấy gieo vào đầu cậu cái ý nghỉ rằng lời đó có thể thực hiện một ngày nào. Cậu thấy cô gái ấy càng trở nên dể thương với cái tên Cam như trái cam. Cậu mơ mộng về cô ta, mê say như các nhân vật trong các cuốn tiểu thuyết Pháp, nhưng vì quá rụt rè nên cậu không dám bắt chuyện với cô nữ sinh. Nguyên nhận thấy, sau khi cậu rời trường về nhà, cô Cam đã thủng thẳng đi qua mặt cậu. "Liệu là do tình cờ hay cô ấy cố tình đợi mình ?", Nguyên tự hỏi. Cậu bèn đi theo cô gái nhưng vẫn giữ một khoảng cách 5 - 6 thước. Cậu bước vội khi cô Cam đi mau và lần dần khi cô ấy đi chậm. Cũng có thể cô ấy không hề biết có Nguyên đi theo sau ! Cuộc theo đuổi âm thầm này dẫn đến tận ngã ba rẻ qua cầu Ông Thượng về làng Lại Thế, nơi cô Cam ngụ cư. Còn Nguyên đi thẳng về nhà. Cứ thế, tháng này qua tháng nọ như một thói quen, một trò chơi giãi trí.

            Một hôm, Nguyên viết vài chữ trên một mãnh giấy nhỏ, vượt bước qua cô Cam, rồi nhẹ nhàng ném xuống đất trước mặt cô. Cô gái vẫn thản nhiên rảo bước như không nhìn thấy gì cả. Lòng tự ái bị chạm, Nguyên không đi theo cô Cam trong vài ngày sau. Nhưng đến tuần tiếp, khi nhìn thấy cô từ xa, cậu vội chạy lại gần và lần này cậu áp dụng phương pháp "thần giao cách cảm" mà cậu đã học trong quyển "Khoa học huyền bí" nói trên. Nhưng chẳng thấy có chút kết quả nào ! Nỗi thất vọng về thất bại của cuộc thí nghiệm còn lớn hơn thất vọng về việc cô Cam không có nhạy cảm với mình. Thực tâm, cậu cũng không trách cô ta. Vì nếu thành công, cô ấy đến trước mặt cậu, cậu sẻ lúng túng chả biết nói năng làm sao !

           Nguyên lại trở về với những tác phẩm lịch sử và tiểu thuyết kiếm hiệp thích thú đã làm thoả mãn nhiều mơ say cũng như lòng khát khao mong muốn tránh thoát thực tại của cậu. Và lại một lần nữa, củng chính vì sở thích dán mắt vào những tập truyện kia mà Nguyên lại được xếp vào hàng những học sinh cuối lớp và kèm theo một nhận xét trở nên bất dịch : "học trò lơ đễnh, mơ mộng và hạnh kiểm kém sút".
            Rất nhiều lần, Nguyên cho rằng lời ghi đó là không công bằng. Một phần vì bị nhồi sọ những môn học y hệt như năm đã qua, trong khi thư viện của trường Nữ Công có rất nhiều sâch thú vị và trình độ cao hơn. Một phần do thái độ không thành thực của thầy giáo không chịu suy nhận đứng đắng cái khả năng thực sự cûa Nguyên về các môn học chính mà chi quan tâm đến hành vi bên ngoài của người mà ông ta đã cố tâm bài xích trước khi xét đoán công minh. Cách cư xử vị kỷ ấy đã khơi dậy lòng phản kháng của cậu. Nguyên lấy cớ đó để trốn học, ít nhất 2 hay 3 lần một tháng. Cậu cáo ốm với anh trưởng lớp có trách nhiệm giữ sổ ghi điểm và sổ vắng mặt của học sinh. Anh này vốn biết rỏ về sự xung khắc gữa Nguyên và thầy giáo nên củng cảm thông với người bạn cùng lớp.

            Thường lệ, cậu đi "trường bụi" vào những chiều nắng đẹp. Khởi đầu từ nhà Bưu điện trung tâm, Nguyên vượt qua cầu Thành Thái, dọc theo thành phố rồi đi vào Thành Nội qua một trong bốn cửa lớn và đi thẳng đến hồ Tịnh Tâm. Cậu từ từ tiến bước trên chiếc cầu gỗ dẫn đến một ngôi chùa bé nhỏ nằm giữa hồ sen đầy hoa. Dựa lưng vào cột chùa, Nguyên mở đọc một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hay kiếm hiệp - không quên ngậm vài viên kẹo ngọt - Nguyên thả hồn mình thơ thẩn, mơ màng bay tới chân trời xa xăm … Cho đến gần giờ bãi trường - không có chút mặc cảm hối hận - cậu cắp sách trở về nhà với tâm hồn thư thái và yên tĩnh.

            Đến cuối năm, mặc dầu bị xếp hạng không cao và lời nhận xét khó tránh : "hạnh kiểm kém sút", Nguyên vẫn được lên lớp "Nhất". Thầy giáo mới, Ưng Thái, cũng dòng dõi Hoàng gia như thầy giáo lớp Nhì 1, Ưng Quyền, nhưng thầy lại không có phẩm cách độ lượng như thầy giáo trước. Thực vậy, trong khi thầy giáo củ duy trì kỷ luật bằng một uy quyền tự nhiên, thì thầy giáo mới chỉ biết xử dụng hình phạt tát tai và roi mây. Trò nào bị phạt phải nằm dài trên bục giảng ; cả lớp cùng như nín thở, khi thầy giáo hay trưởng lớp đứng lên thi hành hình phạt.


            Hiển nhiên là Nguyên không thế nào tránh khỏi cán roi mây, vì thầy giáo luôn tìm mọi cớ để bắt lổi cậu. Thầy thường bất ngờ gọi cậu để hỏi những môn học mà Nguyên chê là môn phụ thuộc. Ngoài ra thầy còn nhiều lần bắt gặp cậu đang lén đọc truyện giấu trong sách học. Nếu Nguyên theo lời thầy mà đọc các tập "Sách hồng" (Livres Roses) của nhà xuất bản Hachette, hay "L'ami Fritz" của Eckmann Chatrian, thi có lẽ được đở lổi một  phân nào. Nhưng cậu chê những cuốn sách trên vô vị và quá trẻ con. Ngoài ra, cậu cũng bắt đầu thích đọc những cuốn tiểu thuyết trinh thám để có dịp noi theo trí phân xét đa mưu của các nhà thám tử. Thêm một lần nữa, cậu lại được lời nhận xét giống như cũa hai thầy giáo lớp Nhì 2 trước :"hạnh kiểm kém sút" ("conduite laissant à désirer"). 

            Một chuyện không may đã xảy ra hình như để chứng minh cho lời nhận xét này. Môt hôm, trong giờ ra chơi, thầy giáo củ lớp Nhì 2, khi trông thấy Nguyên đi qua lớp, bèn nhờ cậu lấy dùm thầy môt ly nước để thầy đổ vào ông điếu. Nguyên cầm ly chạy đến nhà vệ sinh nằm cách đấy khoảng chục thước tây ở góc hành lang nối với trường. Khi đang trên đường trở về thì bổng một cậu học sinh tinh nghịch đưa chân ra làm cậu suýt bị té. Sau khi lấy lại được thăng bằng, Nguyên đứng thẳng dậy và không một lời nói, cầm chiếc ly giáng ngay vào đầu kẻ vừa chơi xấu. Đánh mạnh đến nỗi chiếc ly vỡ tan. Kẻ kia chỉ kịp hét lên khi thấy máu và nước cùng chày dài trên mặt. Thầy giáo chạy đến và rất lấy làm bối rối bực mình trước cảnh tượng này. Ông dẫn kẻ bị thương đến trạm y tá, và đưa Nguyên đến văn phòng Hiệu trưởng ngay bên cạnh. Sau khi để Nguyên tường trình lại những việc đã  xảy ra, ông Hiệu trưởng liền hỏi :
            " - Có phải chính trò đã gây sự trước ?

            - Thưa thầy, không !
            - Trò có thường xung khắc với trò kia không?
            - Thưa thầy không, con không biết tên và chưa bao giờ chuyện vãn với trò ấy.
            -  Được  rồi. Ta sẻ nói chuyện với ông Cụ của trò, ông Hiệu trưởng kết thúc".

            Ông Hiệu trưởng cũng là thầy giáo lớp Nhì 2 của cậu trước, lại là người quen biết với ông thân sinh Nguyên. Nhưng ngay ngày hôm sau buổi nói chuyện cũa hai người, cậu bị đình chỉ đến trường học 3 ngày. Do cha của đứa trẻ bị thương, người có quyền chức, đã có lời khiếu nại.
            Tuy thầm vui được 3 ngày nghỉ học, nhưng Nguyên vẫn thấy quyết định đó không công bằng. Cậu phàn nàn với ông cụ rằng chính trò kia đã gây sự trước và cử chỉ của cậu là môt "hành vi tự vệ chính đáng" ( légitime défense ).
            - "Sao con biết được danh từ ấy ? ông cụ hỏi.
            - Trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám.
            - Con có nêu lời đó với ông Hiệu trưỏng không? 
            - Thưa không, lúc đó con sợ thầy và con quên nói đến.
            - Thôi, không nói đến càng hay ! ông cụ kết thúc".
            Nguyên không hiểu tai sao cha lại nói như vậy nhưng cậu không dám hỏi. Cậu cảm thấy yên tâm vì ông cụ không quá trách cứ cậu.


            Cậu ngạc nhiên khi thầy giáo trong lớp không đã động đến chuyện trên. Những bạn học, lúc đầu chi coi cậu như một kẻ tầm thường, hiền lành và vô sự, thì nay đã nhìn cậu với đôi mắt khác, pha thêm chút ngưỡng mộ, vì cậu đã dám trừng trị kẻ chuyên chế bắt nạt những trò nhỏ tuổi. Nhưng Nguyên chẳng cảm thấy hài lòng chút nào, vì cậu chỉ hành động tự nhiên không cố ý. Và cậu nhận thấy những suy luận của người lớn có phần thiên vị, không như lời nói tự tâm, phản ứng hồn nhiên cũa bọn trẻ, có khi lại gần lẽ phải hơn.

            Nguyên dường như đã bắt đầu quen thuộc với cán roi mây vì cậu lại hay trốn học như trước. Cậu tự bào chữa, coi hành vi phản kháng của mình là do sự chống đối với thầy học. Cậu không thể chịu đựng được cái nhìn đầy thù ghét cũa thầy khi thi hành hình phạt, Nguyên nhìn trở lại thầy với đôi mắt thử thách và cắn răng chịu đòn. Do đó những phát roi càng ngày càng thấm thía hơn. Nhận thức được điều đó, Nguyên lần sau, kêu to ngay từ  lát roi đầu tiên rồi cúi đầu không nhìn thầy giáo, cậu nhận thấy đở đau vì những lát roi đi theo ít hơn và kém mạnh. Cậu nhớ là cậu đã giở trò này, hồi cậu 6 - 7 tuổi, khi bị mẹ phạt đòn vì tội không nghe lời. Nguyên tự hỏi : "Liệu bản chất hai mối giận hờn - của thầy học và của bà mẹ - có gì khác nhau không ?".
           Như một sự lạ lùng, cậu ít bị đòn hơn trước kia, nhưng câu nhận xét "hạnh kiểm sút kém" vẫn không thể xóa được, nó dường như đã mãi mãi in sâu vào cuốn sổ ghi điểm hàng tháng của cậu.
            Đến cuối năm học lúc 14 tuổi, Nguyên là một trong hơn nửa số học sinh trong lớp thi đổ Chứng chỉ tiểu học.


            Nhưng niềm vui của bố mẹ Nguyên không dài lâu. Nguyên bị trượt trong kỳ thi vào lớp Đệ nhất trường Trung học Khải Định, trường trung học công lập duy nhất của miền Trung nước Việt thuở đó. Thực là một kỳ thi tuyển lựa hơn là kỳ thi kiểm tra. Cũng như các giáo viên tham dự hội đồng giám khảo, các thí sinh tấp nập đến từ mọi nơi, từ Bắc chí Nam miền Trung.Vào khoảng 500 học sinh có Chứng chỉ tiểu học dự thí, Trường chỉ nhận 90 học sinh thi đổ chia ra hai lớp A và B (40 học sinh mỗi lớp, cọng thêm 5 học sinh dự bị).

            Vì tuổi 15 là giới hạn chính thức được dự thí, nên Nguyên vẫn còn một năm để chuẩn bị đi thi lần thứ hai. Trong khi chờ đợi, ông cụ thân sinh cho Nguyên tạm theo học trường Trung học tư thục Thuận Hóa (tên ngày xưa của tỉnh Thừa Thiên). Thầy hiệu trưởng Tôn Quang Phiệt là một nhà cách mạng và đã bị tù hãm. Một vài thầy giáo khác cũng có số phận tương tự. Trước sự ngạc nhiên của Nguyên, ông cụ giải thích rằng : theo chinh sách của Chính phủ Pháp, đối với các tù nhân chính trị được phóng thích sau khi bi giam cầm, phải đễ cho họ có sinh kế, sống cùng một chổ mà Sở Liêm phóng có thể dể dàng kiểm soát, hơn là để họ tản mác khắp nhiều nơi.

           Thấy hiệu trưởng vừa dạy tiếng Việt vừa dạy chữ Hán. Còn thấy giáo môn toán học Phan Thanh, vốn là con trai của một nhà hoạt động chính trị của tỉnh Quãng Nam đã từng bị lưu đày ở Côn đảo, một nơi giam giữ các tù nhân chính trị. Trẻ trung, vui vẻ, mặc Âu phục trắng, Nguyên có cảm tình ngay với thầy khi vừa thấy
mặt. Vào lớp, ngồi trên bục gỗ thầy bắt đầu điểm danh. Mỗi học sinh đứng dậy và dơ tay lên. Đến lược Nguyên, thầy mỉm cười nói tiếng Pháp : "Monsieur, votre nom porte bonheur !" (Tên của ông đem lại hạnh phúc !). Cậu rất ngạc nhiên vì thấy lần đầu tiên có người thầy gọi cậu bằng Ông. Và thêm chút thắc mắc : tại sao tên cậu lại được chú ý hơn tên các trò khác ? Tuy nhiên, cậu quá rụt rè không dám hỏi duyên cớ. Từ đó Nguyên ham mê học tập không cần phải gượng ép và chẳng lúc nào cậu muốn trốn học nữa.

            Tuy nhiên, một lần cậu có chút thất vọng. Buổi chiều ấy, một giáo sư tên là Bùi Ái đến dạy bài Anh văn lần đầu tiên. Như các bạn cùng lớp, Nguyên thấy rất thích thú. Nhưng bài học thứ hai không bao giờ đượcc tiếp diễn. Học sinh trong lớp thì thầm với nhau rằng thầy giáo, người đã từng bị tù hãm, đã rời xa tỉnh lỵ. Nhưng một ngày kia, khi Nguyên đi ngang qua hiệu sách nhà in Đắc Lập, ngẩu nhiên nhìn vào trong, thấy thầy đang tiếp khách hàng. Lại tò mò, Nguyên liền hỏi ông cụ thân sinh, được biết rằng thầy Bùi Ái hiện làm việc tạm thời tại đó, và Sở Liêm Phóng (Sûreté nationale de l'Annam) không cho phép thầy dạy tiếng Anh ! Nguyên bất bình nguyền rủa thầm chế độ Pháp thuộc.

            Tuy thế, Nguyên rất mến tiếng Pháp. Một lần, có người bà con xa, tên là Nguyễn Tấn Quê thường đến chơi ở nhà nghỉ mát bên bờ sông Hương, cho mượn bộ sách "Les trois mousquetaires" ("Ba chàng ngự lâm pháo thủ"), cậu rất mê thích, rồi dành một phần lớn thì giờ rảnh để đọc tiếp các tác phẩm của Alexandre Dumas. Từ "Vingt ans après" ("Hai mươi năm sau"), "Le collier de la Reine" ("Cái vòng cổ của Hoàng hậu", "Dix ans après" ("Mười năm sau nữa"), "Le Vicomte de Bragelone" ("Tử tước Bragelone", đến "Le Comte de Monte Cristo"  ("Bá tước Monte Cristo"), cậu thấy phấn khởi trước hành động anh dũng cũa các nhân vật "lịch sử", cảm thông với các trường hợp éo le trong những cuộc tình duyên trắc trở, xúc động trước lòng vị tha, khoan hồng, cũng như căm phẩn trước những mưu mô phản bội cũa các nhân vật trong sách. Riêng biệt, cậu xót xa cho số phận lao đao của chàng Edmond Dantès. Đấu tranh chống mọi bất công mà vẫn giữ lòng chung thủy, không quên lòng tri ân với các ân nhân cũ và thẳng tay trừng trị các kẻ phản bội ngày xưa. Có lần Nguyên thức trắng đêm để đọc hết một trong sáu tập truyện ấy.

            Ngoài tánh say mê đọc truyện, Nguyên còn rất thích chơi cờ tướng. Có lần vào dịp lụt lội mùa thu, nước ngập tới chân trong nhà, cậu vẫn ngồi đấu cờ với bạn hai ngày hai đêm không nghỉ. Cậu cũng thích so tài với những người lớn tuổi hơn, dù trong mười ván cờ cậu bị thua bảy, tám. Nhưng cậu không nản chí, cho rằng khi chơi cờ tướng có thể giúp cậu đặt mình vào vị trí của đối thủ để biết rỏ họ hơn. Và trong lúc liên hệ với người lớn tuổi, cậu có dịp nói chuyện, tìm hiểu được nhiều về kinh nghiệm sinh sống trên đường đời. Cậu đặt câu hỏi, đi sâu vào từng chi tiết, đôi khi nài nỉ cho đến khi đượcc thoả mãn về vấn đề mà cậu quan tâm.

            Năm đầu tiên tại trường tư thục là một năm vui vẻ thảnh thơi. Thói quen xem quan trọng các môn học chính hơn các môn phụ vẫn không thay đổi. Nếu Nguyên không thích các môn địa dư, lịch sử Pháp thì trái lại cậu rất yêu môn lịch sử Việt Nam, và lại ít chăm học môn chữ Hán. Một hôm, trên bảng đen, khi cậu lúng túng không nhớ lại cách viết một chữ Hán, đã gặp nét mặt nghiêm khắc của thầy Tôn Quang Phiệt : "Anh có biết rằng tiếng Việt của chúng ta còn nghèo cần phải mượn các danh từ chữ Hán để phát biểu trên các lỉnh vực khác nhau như văn học, triết học, tâm lý học, xã hội học, và các khoa học khác nữa". Hiểu biết về chữ Hán tất nhiên rất cần thiết. Nhưng vốn cứng đầu nên Nguyên chỉ cậy vào trí nhớ của mình, học thuộc lòng các danh từ Hán -Việt mà không chịu cố gắng học thêm chữ Hán. Và sau này cậu đã vô cùng hối tiếc vì không biết nghĩ xa.


             Một sự may mắn theo cách tính điểm : tổng kết được dựa trên mức quan trọng của từng môn học và được đánh giá theo hệ số từng môn. Vì vậy mà Nguyên được xếp hạng trong bảng danh sách các học sinh khá nhất trong lớp. Còn lời nhận xét "hạnh kiểm sút kém" dường như đã bị vùi sâu trong dĩ vãng xa xăm.

             Cuối năm học đó, Nguyên tạm biệt mái trường tư thục với lòng tiết nhớ và thêm chút day dức như đã phản bội các giáo viên. Cậu đã bắt đầu mến phục tình cảm và lòng nhiệt thành cùa họ trong sự giáo huấn. Và cậu nhận thức rằng muốn tiến triển trên đường học vấn, cần phải có một hoàn cảnh thích hợp. Thầy trò phải có lòng tin cậy lẫn nhau, cần nhiều thiện cảm với nhau (như trong hoạt động Hướng đạo sinh), chứ không phải chung sống trong bầu không khí nghi ngờ, đối địch. (Nguyên muốn tránh dùng chử hờn ghét, khi cậu nhớ đến lớp Nhất ở trường học Chaigneau).


            Nghĩ vậy, nhưng Nguyên lại chọn trường Trung học Khải Định và đi thi một lần thứ hai vào lớp Nhất niên, môt kỳ, thi chọn lựa nỗi tiếng khó khăn. Một phần, cậu nghe theo lời khuyên của cha, rất tin tưỡng uy tín của trường công lập và nhất là không phải đóng học phí. Phần khác, tuy vẫn còn luyến tiết mái trường tư thục, Nguyên coi sự đổi trường, thi tuyển, như là một cuộc thử thách, một dịp chạm trán với đời, cậu nhìn cuộc sống như một trò chơi.

            Kết cục, sau bao cố gắng, Nguyên đã đổ kỳ thi tuyển. Trong niềm tự hào sung sướng, câu coi đó như một món quà dành tặng cho cha mẹ. Niềm vui còn được tăng thêm khi cậu có tin nhận được học bổng bán phần, được ăn ngủ bửa trưa tại ký túc xá nhà trường, nhờ kết quả điểm thi được kèm ghi chú "khá tốt"  (mention "assez bien").

            Le Mont-sur-Lausanne
            Mùa đông năm 2002.

                              Trường Quốc Học xưa được trùng tu sau thời đô hộ Pháp