Ky niêm Huong dao

             7/1945 - 2/1947 - Đồng Hới - Huế - Hà Nội - Đồng Hới - Huế - Hà Nội -  Nam Định - Hãi Phòng - Nam Định - Huế - Tuy Hòa - Củng Sơn.

            Nguyên rảo bước nhanh. Còn khoảng mười cây số nữa, không có bạn đồng hành để trò chuyện nên đường đi xem ra dài hơn.

             Anh ta vừa mơ màng vừa ngẫm nghĩ, oán trách cuộc chiến tranh khốc liệt đã cướp  người em trai trè tuổi vừa đôi mươi. Trở về Huế ăn Tết, anh được tin em tử trận ở khu Nha Trang vào đầu tháng 2/1946. Ông cụ thân sinh, tuy rất đau đớn về sự mất mát này, vẫn lặng lẻ để con trai trưởng ra đi. Nhớ đến, Nguyên cảm xúc không dừng được nước mắt.

            Và tính lại, từ lúc mản cuộc thế giới chiến tranh thứ 2 đến nay, anh ta xem như đang sống trong một giai đoạn phiêu lưu !

            Tháng 8/1945, Nguyên đang làm giáo viên ở Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Một buổi sáng sớm, tếng loa vang lừng đánh thức dậy, gọi toàn dân thành phố đi biểu tình : “ Người Nhật đã đầu hàng quân Đồng minh, Chúng ta được tự do và độc lập “.

            Ra đường phố, anh ta nhập vào đám người đông đúc đi thành hàng san sát. Một số người mang dao găm ở hông, số khác với cờ đỏ sao vàng, trong lúc những cái loa phát dổn dập nhạc hành quân và những bài ca cách mạng. Tình cờ nhận ra được một trong những hướng đạo sinh mà Nguyên là Huynh trưởng, em Thiếu sinh cho biết rằng Tỉnh bộ Việt Minh (viết tắt là Việt Nam độc lập đồng minh hội) đã "cướp" chính quyền.

            Nguyên chẳng biết trước về biến động chính trị này. Tuy nhiên, Ủy viên Hưởng Đạo tỉnh Nguyển Tấn Cưu mà anh ta gặp hằng tuần không hề hé lộ ra chút nào. Có lẽ ông ta cho Nguyên còn quá trẻ để nói về chính trị, mặc dầu Nguyên đã là một nhà giáo thực thụ và  một thủ lĩnh hướng đạo vững vàng (tốt nghiệp khóa Huynh trưởng Bạch Mã năm 1943, do Tạ Quang Bửu, ủy viên hướng đạo quốc gia điều khiển). Nơi nhiệm sở giảng dạy đầu tiên ở Lệ Thủy, Nguyên đă thành lập một Thiếu đoàn mang tên "Trường Dục", và khi được di chuyển về tỉnh lỵ Đồng Hới thì kế thừa Huynh trưởng trước, tiếp tục dẫn dắt thiếu đoàn "Đào Duy Từ".  

            Ngoài phạm vi giảng dạy và hoạt động Hướng đạo, Nguyên còn có thời giờ giao tiếp với nhóm nghiên cứu tâm linh do một nhân viên trung cấp của Sở Công chính tỉnh chỉ  dẫn. Nghiên cứu từ học thuyết "Thông thần học" của bà Blavatsky, qua tư tưỡng Phật giáo, đến giáo lý của ông Krishnamurti, nhà hiền triết Ấn Độ. Thêm nửa, ông Trương Văn Ninh còn dạy về châm cứu và chữa bệnh bằng cách truyền từ khí (thần giao cách cãm).

            Chính trong nhóm học tập này mà Nguyên gặp vị hôn thê thứ hai. Chuyện đính hôn đầu tiên không thành vì tình yêu chỉ có một chiều, không tương đối, vào lúc bắc buộc phải cưới vợ chạy tang theo truyền thống ngày xưa (bà mẹ đang lâm bệnh nặng).

            Hai lần, chính ông thân sinh Nguyên đã vất vả đi Vinh (Hà Tịnh) rồi Lý Hòa (Quảng Bình) mang đôi bông tai vàng để hỏi cưới con dâu tương lai cho con trai đầu lòng. Một lần nữa Nguyên lại ứa nước mắt, vì mang ơn nhiều của bậc sinh thành mà chưa biết bao giờ có ngày đền đáp.

             Nguyên sực nhớ lại, trước cách mạng tháng 8 /945 ở Quảng Bình, trong khi trò chuyện với anh Nguyễn Tấn Cưu, có cho biết ông Cụ thân sinh mình (đồng nghiệp nhân viên Tòa Sứ Pháp) đang làm Bí thư riêng cho tân Thủ tướng Trần Trọng Kim. Có lẻ vì tin ấy mà ủy viên hướng đạo phãi thận trọng không tiết lộ kế hoạch đảng cho người con biết, hay vì vấn đề nghiên cứu về tâm linh được xem là không phù hợp với hoạt động chính trị ?

             Cuối cùng, Nguyên quyết định đi Huế để thấy rỏ ràng hơn, và trước lúc khởi hành ghé qua nhà Nguyển Tấn Cưu để cáo biệt. Sau vài câu chào hỏi thông thường, ông bạn hướng đạo đưa ra một khẩu súng lục nhỏ và nhờ trao lại cho người em bà con ông ta ở An Cựu, ngoại ô Huế. 

           Thực ra, nhận thấy mình được đối xử như một thiếu sinh còn nhỏ được hãnh diện khi nhận được nhiệm vụ quan trọng, Nguyên bực tức, nhưng nén lòng tự ái, chỉ mỉm cười chấp thuận. Rồi, balô trên lưng, đạp xe máy thẳng tiến vào Huế.

             Sau khi thăm gia đình, Nguyên đến gặp một người bạn hướng đạo lớn tuổi, Bạch Văn Quế, quen thân ở Bạch Mã, lúc ông ta quản lý trại đào tạo Huynh trưởng hướng đạo với Ủy viên miền TrungTạ Quang Bửu. Nguyên bày tỏ ý định ra xem tình hình chính trị ở Hà Nội và gia nhập vào "Giải phóng quân". Anh Quế vui lòng cho địa chỉ một người bạn hướng đạo khác ở thủ đô và một giấy giới thiệu để trình Chỉ huy Tự vệ thành Hà nội.

             Tháng 9/1945, Nguyên đến Hà nội vào dịp Tết Trung Thu, đúng hai ngày sau  lễ Độc lập của Việt Nam 02-09-1945. Xuống tàu lửa, tìm ra địa chỉ của Phạm Biểu Tâm - sinh viên y khoa - đang cùng ở với Bác sỉ Tôn Thất Tùng, lúc này vắng mặt. Cuộc gặp gỡ giữa hai hướng đạo sinh rất thân mật.

            Sau buổi  ăn tối, Tâm đưa Nguyên đi dạo phố vào dịp lễ lớn. Những cái loa vang rền nhạc quân hành xen lẫn tiếng hát của những em bé xách lồng đèn giấy đủ sắc màu.

            Hiện thời, Tâm cho biết, ở Hà nội có ba đảng phái chính trị đang tranh giành quyền lực với nhau : Nguyển Hải Thần (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, vt : Việt Cách), Nguyển Trường Tam (Việt Nam Quốc Dân Đảng) và Hồ Chí Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội).

             Tối về nhà, Nguyên rất đỗi ngạc nhiên và ngại ngùng, khi vào phòng ngủ, nằm chung trên một cái giường lớn hai thước vuông (gọi là giường Hong Kong có hai hành lang, bốn quả cầu mạ vàng và mùng tuin trắng). Anh Tâm đễ cô bạn gái, chị Lê một hoa khôi nổi tiếng ở Huế, nằm giửa hai chàng hướng đạo. Thãn nhiên, trong mùi hương thơm phản phất, Nguyên do mệt mỏi, ngủ một mạch đến sáng mai. Lúc điểm tâm, Nguyên hỏi tin của Phùng Thị Cúc, người chị bà con cô cậu. Tâm biết rõ bà ta và cho địa chỉ một người bạn, Phạm Thị Châm Liên.

             Ra đường phố, Nguyên gặp một đội quân Tàu của tướng Lư Hán được phe Đồng Minh tiến cử đi giải giáp quân Nhật ở phía Bắc (Trong khi ở miền Nam, quân Anh nhường chổ cho quân Pháp). Cảnh tượng diễu hành của bộ đội thật là tội nghiệp : đồng phục màu vàng dơ dáy và rách rưới, dáng đi nặng nề với những bàn chân được cuộn trong mấy miếng giẻ cột dây thay giày. Riêng một vài sĩ quan cưởi trên những con ngựa gầy còm. Tất cả có vẻ thảm hại, đói khát như là một đoàn quân bại trận …

             Đường Lò đúc hình như khá xa Hà nội. Đoạn cuối trên đường Nguyên gặp nhiều xe ba bánh chở những xác người chết được những hướng đạo sinh Hà nội thu nhặc. (thời kỳ ấy, ở miền Bắc có hai triệu người chết đói vì quân Nhật dự trữ tất cả gạo cho chiến tranh).

            Chân bước từ từ, Nguyên tìm ra số 101, căn hộ của tòa nhà một tầng. Cô Châm Liên mở cửa nhận ra mặt anh ta chào đón đưa vào trong (Lúc còn học ở trường T.H. Khải Định ở Huế, thỉnh thoảng vào mùa nghỉ hè Cô ta đến chơỉ với bạn gái Phùng Thị Cúc tại nhà hóng mát bên bờ Sông Hương, chỗ nghỉ ngơi của ông cậu, cha của Nguyên. Bạn cô, anh Nguyển Thương cũng có dịp đến thăm)

            Trong giai đoạn thiếu thốn lương thực và đói kém này, cô ta nấu cơm cho vài người bạn cùng chia nhau tiền trọ, lương thực : Nguyển Thương, Lê Kim Chung đã xong khoa luật, Nguyển Chiển tốt nghiệp khoa học, và một sinh viên trẻ mà Nguyên không còn nhớ tên.

             Mỗi buổi sáng, ba người đầu, xách cặp da đi làm việc tại Phủ Tổng thống Hà nội. Buổi tối các anh trở về với nhiều tin tức trong ngày. Chàng trẻ thứ tư miệng há hốc lắng nghe. Anh ta đang học chủ nghĩa Marx với những quyển sách củ trong thư viện nhỏ của bậc đàn anh trong nhà trọ.

            Cô chủ nhà đề nghị Nguyên ở lại một vài ngày để chờ chị họ Phùng Thị Cúc trở về, nhưng chàng trẻ tò mò về chính trị đã xin trả tiền trọ nguyên tháng, lấy cớ là công tác của Cúc có thể kéo dài lâu hơn.

             Tận dụng thời gian rảnh, Nguyên đi thăm các phố phường Hà nội. Đường sá nhớp nháy và tràn đầy người bán hàng rong. Tình cờ gặp lại đội quân của tướng Lư Hán. Trong vòng một tháng, Nguyên ngạc nhiên khi thấy những binh lính này trước đây thảm hại, bây giờ như được hồi sinh, bước nhanh, chân mang những đôi săn đan mới bằng da.

            Buổi tối trở về nơi trú ngụ, khi ăn tối Nguyên thuật lại sự biến hóa bất ngờ này cho các thực khách. Một trong ba người đã giải thích rằng chính nhờ vào tiền cứu trợ của chính phủ. Đã chịu nuôi dưỡng binh lính, còn phải cống nạp nhiều vàng, hàng ký lô, cho tướng Lư Hán để đẩy nó rời đi sớm ngày nào hay ngày nấy. Vì thế, Hồ Chủ tịch đã đề xuất một cuộc lạc quyên toàn quốc mang tên là "Tuần lể vàng" để mong nhờ sự đóng góp của nhân dân.     

             Nguyên không ra ngoài thường xuyên. Một lần, đang đi dạo gần dãy nhà hoang vắng của Đại học y khoa, vô tình lạc vào trong một phòng thí nghiệm đầy tử thi chất đống. Tuôn  chạy nhanh ra, nhưng mùi "formol" bám vào mũi ít ra là ba ngày liền.

            Mổi ngày được đọc các loại sách báo khác nhau do ba cộng tác viên của Hồ Chủ tịch đem về nhà. Nguyên chỉ lướt qua những sách của Marx vì không hiểu gì nhiều. Khi được chàng sinh viên trẻ giới thiệu cuốn "Bản tuyên ngôn của đảng cộng sản", Nguyên cảm thấy thích thú đến nỗi cần cù chép lại sách của Marx và Engels trong một quyển vở nhỏ. Tối lại, nó vui vẻ lắng nghe thảo luận cùa các anh về chính trị quốc gia và quốc tế.

             Ba tuần sau, chị Phùng Thị trở về. Chị hơn hai tuổi, nhưng Nguyên xem như là chị cả, thông minh hơn, giỏi xoay xở, quen biết nhiều người trong kháng chiến và sẳn sàng bảo trợ đứa em họ. Chị vui lòng biết được đứa em họ đang ở với người quen và hỏi muốn sắp làm công việc gì để giúp đở. Nguyên trả lời là đã có một dự định trong đầu.

             Đầu tháng 11/1945, Nguyên đến trình diện ở trụ sở "Tự Vệ Thành Hà nội" với thư giới thiệu của anh Bạch Văn Quế. Sau khi đọc thư, vị Chỉ huy Phan Tây giao Nguyên cho một anh Tiểu đội trưởng, không có thủ tục nào khác.

            Sáng ngày hôm sau, sau khi chào cờ, tân binh nhận một cái xẻng. " - Công tác của đồng chí sáng nay là đào hố vệ sinh", viên hạ sĩ mới nói vừa dẫn nó về phía bãi trống sau doanh trại. Nguyên hít thở thật sâu mùi thơm các cây thông xung quanh, rồi bắt đầu làm việc.

            Đến trưa, viên hạ sỉ tới tìm nó : "Tốt đấy, thế là đủ, đồng chí hãy đi rửa tay trước khi ăn, rồi mỉm cười : "Trước đây anh làm gì ? - Giáo viên, ở Đồng Hới. - Tôi cũng vậy, nhưng trong một làng nhỏ". Hai người bắt tay nhau như những người bạn thực sự. 

            Chương trình đào tạo gồm có những bài tập quân sự, các bài lý thuyết và những buổi thảo luận chính trị. Chính vị chỉ huy, một cựu tráng sinh hướng đạo ở Huế, dạy những bài học : đọc bản đồ, quan sát và xác định vị trí …

            Một hôm, Nguyên nhận thấy rằng ông ta đã nhầm một chi tiết liên quan đến việc định hướng … Đã học môn này ở Bạch Mã với trưởng trại Tạ Quang Bửu nên Nguyên giơ tay, đi lên bảng đen và sửa lổi sai. "Đồng chí, anh hoàn toàn có lý, vị chỉ huy nói". Nguyên bước xuống bục gổ dưới ánh mắt thán phục của khoảng ba mươi tân binh ngồi đó. Nhưng thay vì hãnh diện, nghỉ thầm là mình đã vô tình bị hớ làm mất mặt cấp trên, Nguyên tự nguyền rủa : "Cái tôi chết tiệt, sao mày không thể im miệng một lần ?" Anh ta đã quên câu châm ngôn đạo Khổng mà Ông nội đã thường xuyên lặp đi lặp lại với cháu "Phải uốn lưỡi bảy lần trong miệng trước khi nói". Quá muộn rồi ! Nó tự bảo và thở dài : "Ông ơi, bây giờ cháu phải làm sao đây ?". May mà một cơ hội kỳ diệu đã cứu nó thoát khỏi tình trạng khó khăn trên.

            Về môn chính trị, các bài học được giảng dạy do ông Thị trưởng, bí thư khu II, ở Trụ sở quận nhì Hà nội. Nguyên cảm thấy thoải mái, nhờ đã được rèn luyện lúc ở đường Lò Đúc.

            Một hôm, viên bí thư hỏi những người dự khán : "Các đồng chí, các anh có biết cuộc xung đột thế giới nào chờ đợi chúng ta sau này, nếu sức mạnh quân đội của các cường quốc trở thành vô hiệu hóa ?". Yên lặng bao trùm, Nguyên giơ tay, với những cái nhìn tò mò của nhiều người khác. Nguyên liều đáp : "Lúc đó, sẽ là một cuộc xung đột kinh tế !" - Đồng chí ! Hoàn toàn chính xác ! viên bí thư kêu to lên vừa vỗ đùi".

             Hai tuần sau, cuối giờ học, ông ta thông báo cho các thính giả : "Thành phố dành cho quận II chúng ta một chổ trong Khóa đào tạo Cán bộ Thanh niên (lần thứ 3). Trong các anh ai muốn ứng cử ? Theo sau, các anh sẽ bầu chọn người đắc cử."  Không ai đáp lời, ngoại trừ Nguyên giơ tay. " - Tất cả mọi người đồng ý ?" viên bí thư cười hỏi". Một tràng vỗ tay tán đồng xác định việc lựa chọn. Khóa học đã kết thúc. Nguyên nhận đơn gia nhập ghi sẵn tên nó và đã có tên ký Bí thư, kèm theo cái vỗ vai thân hữu.

             Trở về doanh trại, Nguyên thu hết can đảm đi đến văn phòng vị Chỉ huy và trình ông ta văn kiện quý báu này : "Thế nào ? Anh đã muốn rời chúng tôi hả, ông to tiếng. - Thưa đồmg chí Chỉ huy, xin tha lổi cho tôi, tôi nhận thấy có khả năng làm Cán bộ thanh niên hơn là quân nhân. -  Tôi biết, anh đã làm huynh trưởng hướng đạo. Đồng ý ! - Cám ơn đồng chí Chỉ huy ! Nguyên đứng thẳng người trong tư thế đứng nghiêm giơ tay chào". Thay vì chào trả kiểu nhà binh, ông ta lại đưa tay trái bắt tay nó (theo lối chào hướng đạo). Nguyên hoàn toàn xúc động, thầm hiểu là đã được tha lổi củ.

             Giữa tháng 12/1945, vào ngày khai mạc của Khóa đào tạo Cán bộ Thanh niên, các thành viên tấp nập đến trước một công thự nhỏ - cơ quan hành chính - nằm trong một khu vực lớn rải rác những lều trại hướng đạo.

            Đến văn phòng, Nguyên đăng ký dưới danh hiệu Lê Hồng Nguyên, có hình trên thẻ "Chứng minh thư" của Tự Vệ Thành Hà nội (Từ khi ra miền Bắc, anh ta đã dùng biệt danh này để tưởng nhớ nhà cách mạng yêu nước Lê Hồng Phong, nạn nhân bị chém đầu do sự đàn áp của thực dân Pháp.)

            Nhìn lên tường, Nguyên thấy một sơ đồ chương trình tổ chức có ghi tên các nhân viên điều khiển : Trường Chinh, giám đốc chính trị, Dương Đức Hiền, giám đốc hành chính, Tạ Quang Bửu, trưởng trại, cùng các thuyết gia khác : Phan Anh, Trần Huy Liệu, Trần văn Giàu… Nó không còn nhớ những tên kém nổi tiếng.          

            Với một học viên khác, dân Hải Phòng, Nguyên cùng nhận một cái lều và hai cái mền. Hai người tìm một chổ trống để dựng lên, bên cạnh một lều khác chứa hai người miền Bắc mà một là dân Nam Định. Anh ta nhận thấy kỳ quặc, vì mình là một người Huế mà đại diện cho khu vực Hà nội. Cách xa thêm một đoạn, lại gặp hai phái viên của miền Trung, hai giáo viên hướng đạo quen biết : Lê Cảnh Đạm dạy học ở Huế và một đồng sự ở tỉnh khác mà Nguyên đã gặp trong một hội đồng giám khảo ở Hà Tĩnh.

            Thủ tướng Phạm văn Đồng làm chủ tịch buổi khai giảng của trường, trong một cái trại rất lớn chứa ít ra là khoảng một trăm học viên đến từ những miền Bắc và Trung. Bạn cùng lều thì thào : "Khóa học trước được Chủ tịch Hồ Chí Minh khai mạc".

            Bài học đầu tiên do Trường Chinh khởi xướng. Ông ta kể lại cuộc tranh đấu chính trị của các phong trào cách mạng ngay từ đầu cho đến nay. Đó là diễn thuyết gia chính, thuyết trình thường xuyên nhất. Người bên cạnh lại thì thầm : "Trường Chinh là một danh hiệu có nghĩa là "Đường dài" của Mao Trạch Đông. Tên thật là ông ta là Đặng Xuân Khu, lý thuyết gia chủ nghĩa Marx."

            Khi đến lượt Tạ Quang Bửu, đề tài chính là trình bày những hệ thống chính trị khác nhau trên thế giới. Ông nói về nước Anh nơi ông đã trú ngụ trong quá trình học tập, và bàn nhiều về Thụy Sĩ mà ông ca ngợi nền dân chủ trực tiếp và chế độ liên bang của nước này, tập hợp 22 bang, với 3 ngôn ngữ chính : tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý. Nguyên không ngừng ghi chép nhanh chóng về mọi chủ đề, vì với nó tất cả đều mới mẻ và thích thú.

            Các bữa ăn được phục vụ như trong một trại lớn hướng đạo. Dù mưa phùn lạnh buốt phả vào, ở đây vẫn bao trùm một bầu không khí vui vẻ và ấm áp, những đồng chí trở nên những người bạn thân và trao đỗi cho nhau địa chỉ.

            Nguyên không nghĩ là ở mãi tại quận II Hà nội, nhưng muốn trở về Quảng Bình, đễ gặp lại vị hôn thê và các bạn bè. Vậy là cuối khóa học, nó đến văn phòng Dương Đức Hiền, giám đốc hành chính, để trình bày nguyện vọng đi công tác ở tỉnh lỵ Đồng Hới mà nó đã làm giáo viên. Nó nhận được sứ vụ lệnh và vé tàu hỏa.

            Rồi đến ngày bế mạc khóa 3 của trường. Bắc đầu, những diễn văn, tiếng hát, phát văn bằng rồi các giải thưởng. Nguyên nhận được một giải, mở ra thấy một cuốn sách đầu đề : "Lê Hồng Phong, anh hùng dân tộc". Trùng hợp quá đỗi ! nó tự nhủ.
            Sau cùng, mọi người được tham dự một bửa tiệc thật là thịnh soạn, tưới đẫm rượu vang đỏ (có lẽ đem đến từ hầm riêng của Phủ Thống sứ Toàn Quyền Đông Dương xưa).
            Nguyên không quen uống rượu vang. Tuy quá chén, ngay sau đó củng bắt kịp chuyến tàu lửa ở ga Hà nội vào Nam.

            Rượu làm Nguyên choáng váng, chỉ thèm ngủ. Tàu đông khách dường như không có lối vào. Kiểm soát viên thấy vé và sứ vụ lệnh liền dẩn nó đến toa bưu kiện ngổn ngang những gói hàng. Nguyên nhìn thấy một góc trống trên sàn tàu, cám ơn sự hướng dẩn và lăn ra ngủ. Quấn chặt trong cái áo mưa Nhật bản củ, đầu kê trên cái balô hướng đạo vuông, nó ngủ một mạch đến Thanh Hóa, tỉnh thành phía bắc của miền Trung.

            Thức dậy hơi khó chịu, Nguyên nhận thấy đầu nó gối thẳng trên sàn. Hai dây đeo balô hướng đạo, vì thận trọng buộc dưới nách, đã bị cắt đứt ngọt như phải dao cạo râu, hành lý nghèo nàn của nó đã bay theo balô. Đến phàn nàn điều đó với trưởng tàu, ông này lắc đầu : "Đáng tiếc, tôi không thể giúp gì anh lúc này ! Nhưng tôi thấy đó là cách làm việc của một kẻ chuyên nghiệp", ông nói sau khi đã nhìn kỷ hai đầu dây bị cắt đức như dao xén.

            Thất vọng và lo âu cùng một lúc, Nguyên kiểm điểm lại các đồ đã mất : văn bằng Cán bộ Thanh niên, một bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh mua ở quầy sách trong trại, cuốn sách "Lê Hồng Phong anh hùng dân tộc", giải thưởng đã nhận, sổ tay ghi chú các bài giảng, vài lá thư, vài cái áo quần và quyển vở chép tay tiểu phẩm của Marx và Engels : "Bản tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản". Bóp trán để tìm hiểu tại sao nó có thể làm cho công an đễ ý đến. Nguyên ngẫm nghĩ mãi "Những kẻ chuyên nghiệp ! Chắc chắn chúng đã nể nang mày vì chân dung Bác Hồ và cuốn Marx và Engels đã giúp mày như giấy thông hành. Nếu không, những kẻ này đã cắt cổ mày bằng dao cạo của chúng ! Ô không ! Đừng bi kịch hóa ! Mày nói bậy, Watson yêu quý. Chúng nó cũng có thể đón mày lúc xuống tàu !".

            Đột nhiên một việc nhỏ thoáng qua đầu Nguyên. Một buổi chiều ở Hà nội, nó đang lang thang trước Nhà Hát Lớn, một chiếc xích lô dừng lại bên cạnh. Một thanh niên trẻ mang giày cao ống chìa tay ra và kêu : "Lên đây! Lên đây!". Nguyên nhận ra tráng sinh Phan Xuân Thiện, cùng học sinh trường Khải Định, biệt danh là "Ba đi guệt". Ngồi bên cạnh, anh ta hỏi : "Mày làm gì ở đây ?" - Tau theo học khóa đào tạo quân sự, còn mày ?. Thiện đáp : "Mày sẽ thấy !"

            Sau đó, chiếc xe dừng trước ngôi nhà mang tấm biển "Việt Nam Quốc Dân Đảng". Đi thẳng vào trong phòng chính, Nguyên thấy một tấm thảm, trên đó những võ sinh "judo" đang tập dược ồn ào. "Ba đi guệt", thật sự mang guệt lúc này hãnh diện giới thiệu cảnh tượng này : "Đây là những đệ tử của tôi !". Tiếp theo, anh ta mời Nguyên đi ăn một tô phở bắc ở góc phố. Nguyên nhớ là đã kể câu chuyện có vẽ khôi hài này trong thư gởi cho vị hôn thê.

            Cuối cùng, không gặp trở ngại và không hành lý, Nguyên đã đến ga Đồng Hới. Thành phố hầu như vắng vẻ so với Hà nội.
            Tình cờ gặp một người quen Đinh Sơn Thung, chỉ huy quân đội Quãng Bình nói đùa : "Cưới vợ mau lên ! cô bạn anh hiện nay rất được chiều chuộng !".  Nguyên cười ồ đáp lại : "Sao anh nghĩ vậy ! Lập gia đình vào lúc này ! Đến đau hay đó !"
            Quả thật, vị hôn thê đang say mê hoạt động chính trị, được một vài cán bộ địa phương tán tỉnh. Gặp lại vị hôn thê, Nguyên cảm nhận : một tình yêu tha thiết, mặc dầu đã chia sẻ trước đây, cũng không cưỡng lại được, trước những sự xáo trộn và thay đổi của thởi gian …
            Dè dặt, Nguyên chào "Tạm biệt ", cưỡi lên cái xe đạp củ, trở vế quê nhà. 

            Trên đường vào Huế, tâm hồn nhẹ nhàng như trên vai không ba lô. Nguyên hát to điệp khúc nổi tiếng trong bài hát của Lưu Hửu Phước, viết cho sinh viên Đại học Hà nội :

                    "Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu, 
                      Xếp bút nghiên, coi thường công danh như phù vân, 
                       … … …

                      Hèn thay đời nhàn cự, hèn thay vui yêu đương,
                      Lúc quê hương cần người, giã trường lên yên …”

            Cùng lúc ấy, nhớ đến một bài hát khác về chiến tranh :                   

                    " Khi ra đi là không ước hẹn ngày về, 
                       Ai quên ghi vào tâm đã bao nguyện thề … “

            Kinh đô hình như bị tê liệt trong trạng thái thủ cựu thời trung cổ. Ngược lại, những doanh trại quân sự náo nhiệt hơn. Đến Trụ sở Nguyễn Duy Thu Lương, Chỉ huy phụ trách Cơ quan liên lạc trong Quân dội Giải Phóng. Nguyên cho bạn hướng đạo xem thẻ chứng minh thư Tự Vệ Thành Hà nội xin nhập ngũ, và nhanh chóng được chỉ định làm Trưởng ban Liên lạc quân sự ở Quảng Bình, nơi dễ dàng tuyển mộ những tân binh.

            Trong khi chờ đợi, Nguyên về nhà thăm gia đình, kiếm vài bộ quần áo mới  và may một balô giống như trước.

            Đầu tháng 1/1946, Nguyên ra Đồng Hới với ba tân binh và tìm thêm tại chổ trong các thiếu sinh Hướng đạo. Ban Liên lạc đóng trại trong sân lớn trường học thành phố, nơi Nguyên đã dạy. Đến từ tuần trước, Ban Tình báo quân sự đã chiếm một nữa sân. Chỉ huy Nguyển Viết Giáp, cũng là một huynh trưởng Hướng Đạo, cùng học trường Khải Định trong lớp song song với lớp của Nguyên. Vui mừng gặp nhau, Giáp cảnh báo : "Ở đây  phải rất cẩn thận. Những viên chức trách địa phương rất ganh tị về  những đặc quyền đã có. Chúng không ưa những "người nơi khác" không lệ thuộc quyền hành của chúng".

            Quả thật, vài ngày sau, trong khi Nguyên đang uống trà buổi sáng ở nhà ông Hiệu trưởng trường học, một viên Công an của Ủy ban nhân dân đến gặp. yêu cầu nó đi theo. Nguyên cùng đi, mang balô trên lưng vì đêm trước, cẩn thận, ngủ trong lớp học của trường.

            Leo lên chiếc xe Citroën đen gặp ngay Trưởng ban tình báo quân sự. Giáp hỏi  "Mày ở đâu đêm qua, công an tìm mày khắp nơi ! -  Trong một chổ bí mật, tất nhiên ! Nguyên cười đùa, "Nhưng chúng ta đi đâu bây giờ ? ". Viên công an không nói một lời.

            Xe đi về phía nam và dừng lại vào khoảng trăm thước tây trước bến phà Quán Hàu. Tất cả xuống xe và đi vào trong một cái nhà riêng. Cùng ngồi trước một cái bàn, Trần Hường, cựu nhiếp ảnh nay là Chỉ huy công an Tỉnh, hỏi Nguyên : "Anh là người phái quốc gia ? - Đúng thế, tôi không là thành viên của đảng như anh ! - Tôi muốn hỏi anh có phải là thành viên Quốc dân đảng ? - Không, Nguyên đáp. - Anh làm gì ở Hà nội ? - Điều đó không quan hệ đến anh ! Nguyên bực mình trả lời". Hường rút súng lục ra khỏi bao và đặt trên bàn.

            - "Anh muốn dọa chúng tôi  ? Giáp và tôi là hai sĩ quan Quân đội Nhân dân. Anh sẽ có chuyện với Tư lệnh quân sự Khu 5 ở Huế.". Anh ta cất vủ khí rồi đưa cho Nguyên một tờ giấy và cây bút chì : "Anh tường trình cho chúng tôi những gì anh đã làm ở Hà nội và trong thành phố của chúng tôi. Sau đó, chúng ta sẽ thấy sau !". Rồi dẩn Giáp đi theo.

            Nguyên, ngồi lại một mình, suy nghĩ : "Những lá thư của mình gởi từ Hà nội cho vị hôn thê có lẽ đã được mở ra kiểm duyệt. Chúng thừa biết điều gì mình làm ở đây. Tại sao lại còn hỏi lại điều đó ? À ! Hôm nay là ngày bầu cử các đại biểu tỉnh cho Quốc Hội khóa thứ nhất (06/01/1945). Nhớ lại, là đã nói ý định muốn ứng cử cho một nữ giáo viên đồng nghiêp ở Quảng Ninh, Nguyển thị Miển. Cô này đã hứa là sẻ đăng ký tên mình trên danh sách của quận và vận động, tuyên truyền cho … Có lè chúng nó muốn ngăn chặn mình ra mắt bằng cách bắt cóc ta đêm trước sao ? Không, không, điều này không đúng hướng ! Còn giải thích thế nào trường hợp của Giáp ? Có phải bởi vì hai chúng tôi như hình như bóng với nhau ? Không, ở đây có thể có những nguyên nhân khác. Để chứng tỏ với chúng tôi rằng chúng tôi là những kẻ đột nhập vào tỉnh lỵ của chúng, tranh dành quyền lực của chúng, và làm sao có thể ngăn chặn những điều đó ? Hảy chờ và đợi xem ! 

             Khay bửa ăn trưa đến làm ngưng lại những ray rức không có hồi âm. Nguyên ăn một mình, rồi ngã lưng ngủ trưa trên cái sạp bên cạnh. Chỉ thấy lại Giáp khoảng tám giờ tối, sau bửa ăn đạm bạc.

            Cùng với tài xế và viên công an trước, xe Citroën đen quay đầu về thành phố dưới ánh trăng mờ nhạt. Xe dừng lại trước dinh thự của cựu Công sứ Pháp tỉnh Quảng Bình. Viên công an đưa hai người lên tầng trên trong một phòng có hai giường, để chúng lại đó không một lời nào rồi đi xuống và khóa cửa lại. " - Thế đó, bây giờ chúng ta là hai tù nhân ! Nguyên nói, và hỏi : Có  hiểu tại sao không ? Mày có phải là đảng viên Đại Việt ? Giáp lắc đầu : Trong mọi trường hợp tốt nhất là chúng ta cảnh giác ! - Chúng không có quyền hành, chúng ta là quân nhân. Ta sẽ khiếu nại viêc này ở tổng hành dinh Huế. Mày muốn đi với tau không ?, Nguyên đề nghị. - Nhưng làm thế nào, nhảy cửa sổ hả ? - Khi nảy đi lên cầu thang, tớ đã nhìn thấy lỗ cửa tròn trước một cây phượng khá cao. Chúng ta nên thử mạo hiểm xem sao ? - Mày đi, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm ! Tau phải ở lại với đồng đội, Giáp nói.  - Tùy mày !, Nguyên trả lời."

            Sau lời "Tạm biệt !", Nguyên đi xuống cầu thang vài bậc, cạy cửa sổ nhỏ rồi trèo qua một cành cây phượng vững chắc. Từ từ, không một tiếng động, nó đã đăt chân trên bãi cỏ xanh.

            Khoảng nửa đêm, sân vắng lặng như con đường bên cạnh. Balô vuông trên lưng và mũ với huy hiệu "sao đỏ năm cánh trên nền vàng" xem như hình ảnh của bất cứ quân nhân nào đang đi công tác. Chỉ sợ tình cờ gặp phải những người quen biết.

            Thấy một chiếc xe xích lô ngang qua, Nguyên  nhảy lên và chỉ về hướng Bến Hà. Đến bờ sông, xuống thuyền để cập bờ bán đảo bên kia. Làm huynh trưởng Hướng đạo, Nguyên đã thường xuyên đưa đoàn đi cắm trại ở khu biển ấy. 

             Đi bộ một mình trên bãi cát, Nguyên dọc theo ven bờ độ 9 cây số, rồi tìm cách qua phà (Quán Hàu), ở vị trí gần địa điểm mà nó bị dẫn đi hôm qua. Rẽ trái dọc theo bờ biển, luôn luôn trên cát rồi hướng về Quảng Trị. Nơi thị trấn, nó đến chào Tỉnh ủy viên hương đạo Tôn Thất Dương Vân, mà nó đã quen biết năm 1941 ở "trại Họp bạn" các huynh trưởng Hoa Lư (Ninh Bình). Ông này giữ nó lại ăn tối.

            Rồi từ giã đi về phía bờ sông, Nguyên tìm một trong những chiếc đò mỗi ngày chuyên chở các lái buôn, đi và về, từ Quảng Trị đến Huế. Chọn đường thủy như đường cát, tìm cách tránh năng lực theo dõi của công an.  

            Sáng sớm, sau một đêm nghỉ ngơi thoải mái trên dòng nước, Nguyên đổ bộ tại một bến đò ở Huế. Đầu tiên nó đi đến doanh trại của chỉ huy Nguyển Duy Thu Lương để báo cáo ông ta về việc bắt giữ bất hợp pháp hai viên chỉ huy ở Quảng Bình, đễ thông tin cho Tổng hành dinh Khu 5.

            Nguyên quyết định quay ra miền Bắc sau khi ghé thăm gia đình. Trên chuyến tàu đêm từ Huế ra Hà nội, do thận trọng, nó nằm dài nơi để hành lý trên cao của tàu, cuộn mình trong cái áo mưa màu xám, khi đoàn tàu đi qua các ga Quảng Bình, nhất là ga Đông Hới.

            May mắng thay, Nguyên đến Hà nội bình yên vô sự. Tìm gặp Phùng Thị Cúc, để kể lại những biến cố vừa qua với chị họ, và tỏ bày ý muốn ngụ cư ở Nam Định, một thành phố sát kề Hà nội. "Nếu em đến đó, cho chị gởi lời chào Nguyển Khoa Diệu Hồng. Người cô của chúng ta là người thân cận Bác Hồ và hiện nay nhận nhiệm vụ tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Cứu Quốc". Nguyên đã gặp Cô khi cô đến thăm Cúc trong dịp nghỉ hè tại nhà Cậu, cha của Nguyên. Chính trong căn nhà nghỉ mát này bên bờ Sông Hương đã tiếp đón bao nhiêu là bạn bè của người chị họ. Hồng và Cúc đã cùng nhau trải qua kỳ thi Tú Tài ở trường trung học Khải Định, cùng lúc với Châm Liên.

             Bước xuống ở ga Nam Định, Nguyên đi tìm nhà Vũ Trọng Hoàng, tỉnh ủy viên hướng đạo, mà anh ta đã quen biết năm 1941 ở "trại Họp bạn" các huynh trưởng Hoa Lư (Ninh Bình). 
            Sau khi dược đón tiếp nồng hậu, Hoàng đề nghị Nguyên phụ trách Đoàn hướng đạo thành phố. Buổi tối lại nằm cùng giường với chủ nhà, trong khi vợ anh ta ngủ với con cái.

            Nguyên bày tỏ sự phiền phức ấy với một giáo viên hướng đạo. Anh này đề nghị cho ngủ đêm trong một lớp học ở trường. Một buổi sáng, nhân viên thú y mang cho một lít sửa tươi. Ban ngày Hoàng mời đến ăn tại nhà. Nguyên rất cảm động về sự ân cần này hay đúng hơn là lòng tốt của những người miền Bắc.

             Tuy nhiên, không thể ở mãi trong hoàn cảnh bấp bênh này, Nguyên sực nhớ đến lời hứa với chị họ là đi chào Cô Hồng. May mắn thay, Cô đã cho một giải pháp cứu vãn tình thế khó khăn là đề nghị Nguyên hổ trợ cơ quan "Thanh Thiếu Nhi" thành phố Nam Định. Người có trách nhiệm tổ chức phong trào, tốt nhiệp khóa Cán Bộ Thanh Niên vừa qua như Nguyên, không biết gì về thực hành.

            Đảm nhận chức vụ này, Nguyên được cấp chỗ ở và nuôi ăn trong trụ sở Thành Bộ Việt Minh Nam Định. Ở đó tất cả cán bộ ăn uống cùng nhau và không có rắc rối nào về chỗ ở, vì có nhiều phòng xử dụng.

            Nguyên nhân dịp làm quen với anh Bí thư tỉnh và anh Lãnh đạo Dân Chủ Đảng, liên minh của Việt Minh, và thỉnh thoảng cùng tham dự vào những buổi thảo luận chính trị với họ. Không lâu, Nguyên được chấp nhận trong tập đoàn và cảm thấy thoải mái trong chức vụ mới.
            Công việc của Nguyên là giúp đở các "Trưởng" nam nử thiếu niên tiền phong trong cách tổ chức với những kỹ thuật đã dạy trong hướng đạo, bài hát và trò chơi.

            Mặt khác, Nguyên không quên phong trào đã đào tạo ra nó. Với Vũ Trọng Hoàng, đàn anh, nó có dịp dẫn dắt hai đoàn hướng đạo sinh đi  Phát Diệm (Quảng Trị) theo lời mời của Giám mục Lê Hửu Từ. Đức cha cùng có một lúc, đoàn hướng đạo và đội dân quân riêng. Một lần khác, Nguyên có dịp dẫn đoàn đi cắm trại ở bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hóa.

            Cô Diệu Hồng để Nguyên tự do hoạt động tùy thích. Bà liên tục đi lại giữa Nam Định và Hà nội. Một hôm, bà nói riêng với cháu : " - Ở đây người ta mến con và con công tác có kết quả tốt. Con có thích vào đảng không ?  - Thưa Cô, con còn quá trẻ, Nguyên đáp. - Đối với con, một đảng viên cộng sản là một người chỉ huy và con hoàn toàn không có tài năng !  - Nhưng con có thể bắt đầu, Cô thấy con khá am hiểu chính trị trong các cuộc thảo luận với các đồng chí, bà nhấn mạnh. - Nhưng từ lý thuyết tới thực hành có một hố lớn. Thật ra con chưa sẵn sàng, Nguyên đáp. - Tùy con, nhưng hãy suy nghĩ kỷ, Cô luôn luôn sẵn sàng giúp con."

            Kỳ thực, Nguyên rất hài lòng được những người thân cận đánh giá, và đồng thời sợ đi lấn sâu vào quá sẽ mất sự tự do. Mặt khác, anh ta nghi ngờ về mặt trái của quyền lực và chính trị. Những bài học của ông nội và những câu chuyện lịch sử thời xa xưa như Tam quốc chíĐông chu liệt quốc đã giúp anh chống lại những tham vọng vượt quá khả năng của mình.

            Nhất là khi Nguyên nghĩ  đến số phận bi thảm của người bạn lớn Nguyễn Tấn Quê  (vt. "Cha tôi, người chưa được thấu hiểu"), và mới đây, người bạn hướng đạo Phan Xuân Thiện biệt danh "Ông ba đi guệt" đã bị trừ khử không cáo trạng, khi công an khai quật những thi thể trong vườn trụ sở Quốc Dân Đảng ở đường Ôn Như Hầu.

             Mùa hè năm 1946, Nguyên nhận được một tin xấu : Ba cái xác người, bó trong bao bố, trôi trên sông Nhật Lệ chảy ngang qua thành phố. Những nạn nhân được xác minh là những công chức ở Đồng Hới : lục sự Nguyển Huy Sương, giáo viên Bùi Thông và một người vô danh biến dạng mà dân cư tưởng là Nguyên, ba người bạn thân giao.

            Tuy nhiên vài ngày sau, đọc "Cứu Quốc" công báo của Đảng, Nguyên chăm chú vào mấy hàng tin tức đến từ tỉnh Quảng Bình : "Ba cái xác trong ba bao bố bị bị ném ra biển đã được vớt lên ở Sông Đồng Hới, những người chết vô danh. Công an địa phương không rõ nguyên nhân đang truy tìm các nghi can và nhân chứng của tội ác “.

            Rất bất bình về hành vi đê tiện và phẫn nộ này, Nguyên quyết định vén màn bí mật. Nhân danh là đại biểu của một số người dân công phẩn, Nguyên viết một bài nêu rỏ tên hai nạn nhân, viên lục sự và giáo viên, cùng tên ba người dính vào mưu sát ấy : Trần Hường, nhiếp ảnh, Lê Viên, cựu tội phạm và Hoàng Diệm, chủ tiệm dược phẩm. Nguyên bỏ vào phong bì rồi giao cho Cô Hồng nhờ cô bỏ vào hộp thư của Tòa soạn báo "Cứu Quốc" ở Hà nội.

            Vài ngày sau, Nguyên thấy bài viết được đăng không thiếu một chử.

            Ở Đông Hới, tờ báo số này bị thu hồi, hay đúng hơn là tất cả những bản in được mua lại, nhưng một số dân cư đã kiếm được số báo trước đó, và những tiếng xầm xì lan ra.

            Chính là một việc gây tai tiếng lớn, thậm chí là một quả bom chính trị. Vì danh tính của ba tên này được nêu ra : người thứ nhất là Chỉ huy công an thành phố, thứ hai là Phó chỉ huy và thứ ba là Bí thư.

            Tất nhiên, lúc chiếm được quyền hành của tỉnh thành, những nhà cách mạng thật sự
vẫn còn ẩn mặt để giật dây, trong khi ba tay này di chuyển bằng xe hơi, dương oai ồn ào, tự khoe là những nhà cách mạng chính cống. Điều này đã gây ra sự sợ hải và phản đối của một số đông dân cư Đồng Hới, đang mê ngủ và được thông tin lệch lạc.

            Để xoa dịu dân chúng, bấy giờ chính quyền Trung ương của Đảng ở Hà Nội đã cử ông Thẫm phán Đinh Hửu Uyên từ Huế ra để làm sáng tỏ vụ việc này.

             (Nguyên còn biết rỏ thêm việc này vào năm 1980 lúc qua Paris thăm người bạn thân của cha, chính là ông Đinh Hửu Uyên, vị thẫm phán phụ trách việc điều tra mà Nguyên đã tố cáo trên báo "Cứu Quốc"). Ông này kể  lại :

            "Việc truy xét chứng tỏ rằng một trong những nạn nhân, Nguyển Huy Sương, đã nắm giử một bí mật trong nội bộ tổ chức về "Tuần lể vàng" (lúc đó dân chúng được mời hiến tặng đồ vàng, như nữ trang, để quân Tàu giải giáp của tướng Lư Hán rời mau đất chiếm).

            Một phần lạc quyên đã biến mất giửa vài cán bộ cao cấp. Khi viên lục sự biết chuyện, đưa đơn xin thuyên chuyển về Thanh Hóa, giáo viên Bùi Thông tiễn bạn ra ga. Cả hai đều bị công an  sát hại, đặt xác trong bao dằn đá và ném xuống biển. Nạn nhân thứ ba đặt ra vấn đề nhận dạng và nguyên do. Nó là ai và làm vai trò gì ? Giả thuyết về cái chết của Nguyên được loại ra vì hội đồng đã biết nó còn sống.           

            Vào thế bí, môt thành viên gợi ý là cậy nhờ cái "bàn xoay". Theo những cú đập, ông này được tiếp xúc với một nhân vật tự giới thiệu là dân thiểu số Rađê. Người miền núi, trong khi đi dạo trên bãi cát, là nhân chứng tình cờ của cảnh tàn sát, nên bị giết luôn với hai người kia. 
            Còn nghi can chính, Trần Hường, còn làm đại biểu Quốc Hội lúc đó, đã xa chạy cao bay, không ai tìm ra, tất nhiên đã được các nhà chức trách địa phương che chở."

            Nguyên vui vẻ và hài lòng đã chơi khăm với tay trưởng công an đã bắt nó cùng lúc với Nguyển Viết Giáp hồi đầu năm (xem ở trên).

            Nhưng một chuyện không ngờ làm Nguyên rất bất mãn. Một hôm, khi đến gặp Vủ Trọng Hoàng, anh này dịu dàng nói với nó : "Anh có biết là anh đang phạm vào một hành vi  "thất đức" không ? Trước vẻ ngơ ngác của Nguyên, anh ta nói tiếp : "Cô Y vừa hủy bỏ hôn ước với X, thủ lĩnh của Phong trào Cán bộ Thanh niên, (cùng khóa với Nguyên), mà lân cận người ta cho rằng nguyên nhân chính là anh. - Thật lạ quá ! Chuyện ấy, tôi chẳng dính dáng
chút nào, Nguyên phản đối, Khi công tác, tôi không có một ưu ái riêng tư nào trong việc giao tiếp với những nữ cán bộ … Làm thế nào để thoát ra tình trạng này, thưa anh ?, Nguyên hỏi. - Anh đã rỏ là tôi không thể nào đứng vào địa vị của anh đễ quyết định thay anh ! Thôi ! Chúng ta hảy vào bàn ăn, Hoàng chấm dứt buổi nói chuyện khó chịu này.
           
            Trong thời gian vừa qua, Nguyên bận rộn với công việc và những chuyện ưu tư khác đến nỗi không có dịp quan tâm đến mọi sự xẩy ra trong vùng hoạt động của mình. Chả có gì   đặc biệt cả !  À ! Bây giờ Nguyên sực nhớ lại sự ân cần của cô gái, cô ta thường xuyên đến bên cạnh để xin nó những lời chỉ dẫn : "Anh Nguyên cái này ! Anh Nguyên cái kia ! " (chữ "anh" tương đương chữ anh trai, nhưng thân tình hơn chữ đồng chí). Do đó Nguyên suy đoán ra là có thể cô Y có nhiều thiện cảm với nó, dể dàng đi đến thầm yêu, nhưng vì thế mà bỏ rơi hôn thê mình thật là một lổi lớn. Làm thế nào để cứu chữa tình thế mà không có thiệt hại gì ? Nguyên bóp trán suy nghĩ suốt cả buổi tối sau khi ăn xong.

            Vào lúc buồn ngủ, Nguyên nhớ lại một câu châm ngôn của Napoléon : "Chiến thắng trong tình yêu, là chạy trốn". "Dĩ đào vi thượng sách" là giải pháp tốt nhất !
            Nhưng rời Nam Định để đi đâu ? Ở nơi nào ? Ý định về lại Hà nội bị loại trừ.

            Tháng vừa qua, Nguyên đã làm một việc không nghĩ trước, là thóa mạ Trần Hường khi gặp nó trước Nhà Hát Lớn ở thủ đô, cùng đi với Vỏ Thuần Nho (anh của Vỏ Nguyên Giáp). - "Đồ sát nhân ! Chúng bay tin rằng không ở trong phe chúng bay là không thể phục vụ tổ quốc được  hay sao ? Thêm nửa, chúng bay còn làm mất thể diện của Đảng !" Nguyên la to trên con đường đông đúc người. Rồi lẫn tránh bằng cách luồn lách trong đám đông trong khi kẻ bị chất vấn và người bảo trợ đang còn ngẩn ngơ. Sự thận trọng chỉ đến chậm, Nguyên nhìn phía trước phía sau rồi vội vàng nhảy lên chuyến tàu kế tiếp để về Nam Định.

            Vậy là bắt buộc phải tránh xa. Nguyên nghĩ đến Hải Phòng, hải cảng, biển cả … nhất là biển. Buổi tối, vào giường, Nguyên mơ màng về tiếng sóng vỗ và ngủ thiếp.

            Sáng hôm sau, Nguyên đến từ giã Vũ Trọng Hoàng, các bạn bè và sau cùng, ông Bí thư tỉnh. Nguyên thổ lộ cho ông ta câu chuyện tình sai lầm đã qua và nhờ ông báo tin lại cho cô Hồng rỏ. Để cám ơn về công tác đã làm, ông biếu Nguyên tiền túi và vé tàu lửa để lên  đường.

            Xuống ga Hải Phòng, Nguyên đi thẳng đến Tòa thị chính, Trụ sở Thành bộ Việt Minh. Trong đó, găp lại người bạn cùng lều ở Trường Cán bộ Thanh niên. Anh này cũng là Huynh trưởng hướng đạo, rất hài lòng có thêm một đồng chí nữa để giảm nhẹ công việc của anh ta, liền mời nó cư ngụ tại Trụ sở thành phố để phụ trách công việc huấn luyện cho các cán bộ Phong trào Thanh Thiếu Nhi, như ở Nam Định, và hướng dẫn thêm một đoàn Hướng đạo sinh. 

            Nguyên bắt tay vào việc tức thời, và một tuần sau khai trương một công tác mới : đưa một đoàn Hướng đạo sinh đi cắm trại ở một góc bãi biển Đồ Sơn. (Ở thời niên thiếu, Nguyên đã mơ tưởng về hai bãi biển : Sầm Sơn và Đồ Sơn, được tả trong các tiểu phẫm của Nhất Linh và Khái Hưng, hai người tiên phong của  nền văn học mới Việt Nam ở miền Bắc). Cũng như ở Nam Định, Nguyên cảm thấy thoải mái như cá trong nước, xa mọi lo âu … 

            Rồi bầu trời xám xịt. Ngày 20/11/1946, với lý do xảo quyệt, quân đội Pháp thả bom thành phố, gây ra nổi kinh hoàng, dân cư phải di tán ...

            Với đoàn người cồng kềnh hành lý, balô trên lưng Nguyên phải vội vàng đi bộ lánh nạn về phía nội địa bằng cách men theo con đường Hải Phòng - Hà nội. Trên trời, vài chiếc máy bay quay quẩn và thỉnh thoảng bắn hàng loạt đạn.

            Nguyên nhớ lại là đã vượt qua hai nhánh Sông Hồng với những chiếc thuyền quá tải có nguy cơ chìm bất cứ lúc nào và đạn rít xung quanh. Sung sướng thay đến thành phố Hải Dương, nó nhảy lên một toa tàu chở hành lý đi về phía Hà nội.

            Trở về Nam Định, đến trụ sở đảng đang lúc sôi động, Bí thư, đồng chí Bích, cho biết tin Cô Hồng và một số cán bộ đã rút lui về Hà nội để lên chiến khu. Nguyên nói với anh ta có ý định quay về miền Nam và xin một thẻ thông hành và một vé tàu lửa. Anh Bích làm ngay, rồi chúc Nguyên thượng lộ bình an với một ít tiền bỏ túi.

            Mơ ước đến tận Nam Bộ đã biến mất vì tàu phải dừng lại ở Tuy Hòa. Dân chúng và cơ quan chính quyền ở đây chuẫn bị thu xếp về phía Bắc, sau cuộc tấn công của quân đội Pháp từ Nha Trang. Chỉ còn quân đội nhân dân tăng cường bảo vệ ở tại chổ. Và chính lúc này mà Nguyên quyết định nhập ngũ một lần nữa.

            Quả địa cầu thật là quá bé nhỏ, vì tại chổ nó gặp lại người bạn học củ Hồ Toàn ỏ trường tiểu học Vỹ Dạ. Chị của bạn kết hôn với anh của chị họ Nguyên, Phùng Thị Cúc (Phùng Duy Phiên lúc này chỉ huy quân đồn trú ở Hà Tịnh). Quen nhau từ năm 1929, Toàn nay đã trở thành Tổ Trưởng sở Tình báo Quân sự Khu 5 dưới quyền chỉ huy của Trung đoàn trưởng Cao Văn Khánh.

            Nguyên kể cho anh ta là đã công tác trong Ban Liên lạc Quân sự với Nguyển Duy Thu Lương ở Huế và vừa trở về từ Hải Phòng dưới trận ném bom của máy bay Pháp. Toàn đề nghị Nguyên làm việc trong tổ chức của anh và giới thiệu nó với người phụ trách vùng Phú Yên, Trần Ngọc Hiền, một người bạn, Tráng sinh hướng đạo như Nguyên. Vì anh này, cùng nhân viên cọng tác đã rút về Củng Sơn, cách Tuy Hòa khoảng mười hai cây số, Nguyên khởi động lên đường cuốc bộ, balô trên lưng, lên vùng Cao Nguyên.

CHU THICH

            Phần đông các nhân vật kẻ trên này đều có tên trong mạng Wikipédia tiếng Việt. Nguyên nhận ra (trên mạng tìm kiếm Google) tên Cô Nguyễn Khoa Diệu Hồng và tên chồng là Xuân Thủy, tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm, làm Chủ nhiệm tờ Cứu Quốc (1944-1955). Sau này, ông ta từng làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Phó Thủ tướng Việt Nam. 

            Lúc ở Nam-Định, khi Nguyên viết bài tố cáo hành động của bon lưu manh ở Đồng Hới đã tàn sát hai người bạn thân, rồi nhờ Cô Hồng bỏ vào hộp thư của Tòa soạn báo "Cứu Quốc" ở Hà nội, Nguyên không biết là nhờ có Cô đảm bảo với ông Chủ nhiệm. Nếu không, báo của đảng không bao giờ đăng bài của một người vô danh !.


                       Củng Sơn - Ban mê Thuộc  :  7/1947 - 2/1948

            Vỉnh Yên, một người bạn hướng đạo vừa nhận được lệnh đi công tác trên Cao nguyên. Nguyên thừa cơ hội xin đi theo Ban Tình báo, một nhóm bao gồm sáu người mà năm là cựu nhân viên :           
                 - Vỉnh Yên, Trưởng ban,
                 - Một người miền Bắc trạc độ 40 tuổi,
                 - Một người trẻ miền Trung, tỉnh Phú Yên,              
                 - Một thanh niên độ 15-16 tuổi, cư dân địa phương, 
                 - Một hướng dẫn viên miền núi, người Rhadé, 
                 - và Nguyên, người đến sau cùng.

            Vào hừng đông của một ngày nắng nóng tháng bảy, các thành viên dũng mãnh khởi hành lên đường vượt qua dãy Trường Sơn.
            Ngày hôm trước, lúc khảo sát hành trình qua các "buôn" trên  bản đồ Nguyên đã ước tính khoảng 400 cây số đường trường. 

            Ban đầu các bạn đồng hành xuyên qua rừng xanh, rồi cây cối thưa dần và sau đó là những thân cây còi cọc, khô cằn như cỏ vàng úa bị giẫm đạp dưới chân.

            Ngày thứ hai, Nguyên gặp lại cựu huynh trưởng Nguyển Văn Sao, đã quen biết ở trại "Họp bạn Hoa Lư" năm 1944. Lúc này anh ta là Trưởng Ban Vận động Dân tộc thiểu số. Vui mừng được gặp lại nhau, Sao cho mượn một con voi để đi đường. Sau một vài phút trên lưng thú da dày, mỗi bước đi làm chòng chành ghế bành như trên tàu thủy gặp biển động nên Nguyên, bị say sóng, đành trả con voi và nói với anh Sao rằng tốt hơn là sát cánh cùng nhau đi bộ.

            Ngày thứ ba, Vỉnh Yên nói với Nguyên rằng anh ta phải quay lại Củng Sơn và giao lại sứ mệnh, cùng toàn quyền chỉ huy cho Nguyên.

             (Nguyên thắc mắc về việc thay đổi đầu đàn này, có lẽ đã sắp xếp từ trước. Quả thật, 46 năm sau, khi gặp lại sếp Trần Ngọc Hiền, ông này thổ lộ rằng lúc ấy cần những người có khả năng và một thủ lĩnh cho nhiệm vụ này. Về phần Vỉnh Yên đã bị sát hại trong một sứ vụ khác ở Saigon).

            Nhóm nghỉ qua đêm trong những "buôn" thiểu số. Thỉnh thoảng ban ngày, một chiếc máy bay thám thính pháp lượn vòng trên không. Vì vậy, đôi khi nhóm phải ngủ ngày mà đi đêm, và tin vào sự xoay xở của hướng dẫn viên miền núi để còn phải tránh những "buôn" theo Pháp. Đa số các buôn làng đón tiếp nhóm một cách niềm nở.

            Những vị khách thường xuyên được mời uống rượu bắp lên men đựng trong một cái ché lớn cắm những ống hút cong. Hai người đồng hành được phân công làm bếp đã mua của chủ nhà thịt gà và heo rừng. Trong nhóm, hướng dẫn Rhadé, thành viên của "Mặt trận Giải phóng", chỉ biết vài câu tiếng Việt, phần còn lại thì ra dấu, điệu bộ để giải thích. Trong khi đó, anh miền Bắc có thể hiểu tiếng Rhadé và cử chỉ của người miền núi.

             Từ "buôn" này đến "buôn" khác, Nguyên vui vẻ chăm sóc những trẻ em và đôi khi người lớn, nhất là khi chúng có các vết thương và mụt nhọt ở chân và bàn chân. Nhờ đã mang theo những dụng cụ băng bó (băng, bông gòn, ga), thuốc sát trùng, thuốc sốt rét và những viên thuốc trụ sinh. Tùy theo mỗi trường hợp, Nguyên rửa thật sạch những vết thương nhiễm trùng, băng bó lại sau khi đã sát trùng và rắc bột trụ sinh.

             Ngày ngày trôi qua giống như là kỳ nghỉ hẻ, không có gì xảy ra. Từ đồng cỏ lớn nhóm băng qua một khu vực cây cối càng lúc càng um tùm, màu xanh đậm tương phản với màu đất bụi đỏ.

             Đến "buôn" cuối, người hướng dẫn miền núi cho nhóm biết là nó không thể đi xa hơn nữa, vì gần đó có một đồn canh người Pháp. Nguyên nhìn bản đồ khu vực thấy còn cách xa Ban Mê Thuột ước độ 20 cây số, và đồn điền cao su ở gần nhất là 10 cây số.

             Vì người hướng dẫn từ chối đi tiếp, Nguyên hội ý cùng đồng đội. Cuối cùng sau khi bàn luận, nó bảo đồng đội ở lại nơi "buôn" này, chờ đợi trong vòng mười ngày, còn nó đi tìm việc làm tại đồn điền kia. Nếu sau thời hạn trên mà không có tin tức nào của nó thì những đồng đội phải gấp rút quay về Củng Sơn. Nguyên để lại cho anh em tấm bản đồ khu vực và một ít tiền rồi đi theo con đường mà hướng dẫn Rhadé đã chỉ.

             Nguyên xuyên sâu vào rừng, theo đường mòn cho đến khi đêm xuống. Bấy giờ ở đàng xa, những ánh đèn nhấp nháy từ đồn điền cao su. Tiếp đến, hiện ra những mái lợp bằng lá dừa của các cư dân nhà sàn, giống như nhà cư dân miền núi nhưng rộng và dài hơn chụm lại thành vòng tròn.

             Đến nơi, nó gặp anh bí thư đồn điền, một thanh niên miền Nam, hoạt bát và thiện cảm. Nguyên nói với anh ta là vừa đến từ Pleiku để tìm việc làm. Chủ nhà cho khách ăn cơm với cá khô, rồi thổ lộ rằng trong công việc, anh ta thiếu một thông dịch viên nói giỏi tiếng Pháp, vì anh ta chuyên phụ trách kế toán, không rành ngôn ngữ này.

            Hai ngưòi trò chuyện một hồi, trong khi đó, dưới ánh sáng nhờ nhạt của cây đèn bão, ở cuối căn nhà lụp xụp này, những người cạo mủ cao su sát phạt nhau bằng những ván bài tây. Chúng chơi hầu như suốt đêm trong bầu không khí sôi động, tràn ngập khói thuốc dày đặc hòa lẫn mùi cá khô treo trên vách phên lá dừa. Lúc này Nguyên cuộn mình trong tấm áo mưa Nhật bản, đánh một giấc cho đến khi chuông báo thức. Nó mặc vội áo quần và rời khỏi nơi ngủ tập thể.

             Lúc năm giờ sáng, Nguyên dã thấy một hàng cu li ăn mặc rách rưới đứng thẳng trước một viên giám thị Pháp, đầu đội mủ, nghiêm chỉnh chân trong ủng. Tay cầm một cái roi bằng da thuộc, nó hô lớn : "Allez ! Allez !" (Đi ! Đi !) kiểm tra từ thợ cạo mủ này qua thợ cạo mủ khác. Trước một cu li run rẩy, rên rỉ : "Malách ! Malách !" (malade), nó quất cho anh ta vài roi vừa la lớn : "Pas malade ! Pas malade ! Paresseux !" (Không bệnh ! Không bệnh ! Đồ làm biếng ! ).

            Nguyên thản nhiên nhỉn cảnh tượng, trong lúc tâm trí hướng về một cựu sinh viên trường Quốc Học (đổi danh là trung học Khải Định năm 1932) : Vỏ Nguyên Giáp (Đại tướng Quân đội Giải phóng). Năm 1929, ông bị loại khỏi trường vì đã dám bớp tai một trong những viên chức tuyển dụng cu li cho đồn điền cao su, và ông ta còn bị ba năm quản thúc tại ngục tù Lao Bảo ở Lào vì lý do ẩu đả với một dân Pháp.

            Đa số cu li này được tuyển chọn ở Bắc, không tồn tại bao lâu. Đầu tiên là bị bệnh sốt rét tàn sát, kế tiếp là thiếu ngủ, suy dinh dưỡng làm cho chúng kiệt sức và thêm nạn nợ cờ bạc nên buộc chúng phải ký gia hạn hợp đồng thêm so với  một năm ban đầu. Cuối cùng, do những năm tháng lao động khổ sai, chúng nó đã chôn vùi thân xác trong vùng đất đỏ quá phì nhiêu này, và rồi nhanh chóng được thay thế những người cu li khác bị cám dổ bởi số tiền thưởng và những lời bịa đặt của các tuyển dụng viên.

             Trong khi Nguyên đang suy tư về những tác hại của chế độ thực dân đã thấy tận mắt, anh bí thư đồn điền đến tìm nó để giới thiệu với viên giám thị. Anh ta khẳng định là đồn điền rất cần một thông dịch viên. Tất nhiên, đồn điền thuộc dưới quyền quản lý hành chánh của Ban mê thuột, cho nên phải xin phép chính quyền địa phương sau khi xác nhận giấy tờ chứng minh của nhân viên mới. Vậy là Nguyên phải chờ đợi một thời gian.

             Vài giờ sau, một ngưòi Pháp đến trong chiếc xe Ford cũ kỹ hai chổ ngồi. Ông ta tự giới thiệu là Trưởng đội Hiến binh Ban mê thuột. Nguyên lên ngồi bên cạnh và bắt đầu trò chuyện. Tài xế tên là Lefèvre, một cựu hạ sĩ quan quân đội, ít học vấn, nhưng vui vẻ và thiện cảm, hoàn toàn trái ngược với một tay thực dân chính cống.

             Chiếc xe Ford già nua hốc máy trên dốc rồi dừng lại hẳn. Một trong hai người phải xuống đẩy xe. Thấy Nguyên không được to con nên trưởng đội hiến binh phải ra tay và nhờ Nguyên giử tay lái. Việc đẩy xe cứ tiếp tục lặp đi lặp lại nhiều lần. 

            Một lần khi xuống dốc, cầm tay lái, Nguyên đã có ý định đi thẳng một mình. Nhưng thực hiện ngay là một điều điên rồ. Nó không sợ khẩu súng mang ở hông trái của hiến binh. Nhưng sẽ đi đâu trong thiên nhiên, không có bản đồ khu vực để di chuyển, biết rằng nơi đây là khu vực quân sự. Nó sẽ bị bắn ngay tại chổ. Vả lại, sứ vụ của Nguyên có tính cách hòa bình, thật là quá nguy hiểm khi muốn đóng vai trò "James Bond 007" như trên màn điện ảnh.

             Sau độ một giờ đi đường hai người đến trước một xóm làng. Nguyên chỉ thấy lác đác vài căn nhà ở vùng ít dân cư, hoàn toàn khác hẳn những điều mà nó đã tưởng tượng từ trước. Xe dừng lại trước văn phòng của Ty An ninh. Nụ cười thoải mái, viên sếp Hiến binh nói : "Tôi đưa anh đến nơi ông Célicourt ! Anh tự xoay xở với ông ta. Chào tạm biệt và chúc may mắn !".

            Ngồi vào bàn, ông Trưởng ty chỉ cho nó cái ghế đẩu đối diện. Rồi ông ta nhìn thẳng vào mặt nó với vẻ lạnh lùng và nghiêm khắc, kiểu cách của tay thực dân chính hiệu. 
            Nguyên xuất trình hộ chiếu được cấp do cơ quan An ninh Trung phần ở Huế. Sau khi kiểm tra ông ta hỏi :
            " - Anh đến từ đâu ?
            -   Thưa ông, tôi đến từ Pleiku, Nguyên đáp
            -   Bằng phương tiện nào ? nó hỏi.
            -   Bằng ôtô bus, qua gần đồn điền tôi xuống xe để đi tìm việc làm, Nguyên trả lời.
            -  Anh nói láo ! Anh là một tên Việt Minh ! nó la to vửa đập tay vào khẩu súng bên trái, đặt trên bàn giấy. Bỏ đồ trong xách ra !" 
            Nguyên biết rằng lệnh này có hai nghĩa, nhưng làm như không biết, mở xách hướng đạo ra và đổ vung vãi các đồ dùng trên sàn nhà :
            - áo quần : một quần dài trắng, hai sơ mi, hai may ô, ba quần đùi,
            - một khăn quàng hướng đạo, một huy hiệu huynh trưởng, một còi thổi, tiền lẻ, …
            - một con dao nhỏ, một tập ghi chép, một cây bút chì, vài cây kim và chỉ may …
            - một ống nhỏ thuốc sốt rét, trụ sinh viên, lọ thuốc sát trùng, bông, băng, ga ...
            -  một cuốn sách Kinh Thủ Lăng Nghiêm, sách gối đầu giường của bà mẹ, giử làm kỷ niệm khi nó tạt qua Huế lần cuối.

            Không thấy những giấy tờ khác, trước tiên Ty trưởng an ninh xem xét tập ghi chú mới tinh, rồi cầm quyển sách chữ Việt lẫn chữ Hán lật lướt qua :
            " - Quyển sách này là gì ?
              -  Đó là sách Kinh Phật, bởi vì tôi là một Phật tử, như các tín hữu trong gia đình tôi, Nguyên đáp. 
            -  Và những thuốc men này ? nó đưa lên và hỏi.
            -  Tôi giử chúng luôn luôn bên mình vì tôi là một hướng đạo sinh, Nguyên vừa trả lời vừa chỉ cho nó huy hiệu và khăn quàng, nhưng nó không thèm chú ý.
            -  Hãy cởi áo quần ra ! nó ra lệnh bằng giọng thô bạo.
            Nguyên lột hết áo quần chỉ còn cái quần đùi.

            -  Hết tuột ! nó kêu lên ! “
            Từ từ Nguyên ném cái quần trên nền nhà và xoay ngang. Ty Trưởng an ninh chỉ lén liếc qua rồi hô : "Hãy mặc đồ lại !".
            Nguyên cẩn thận mặc lại cái quần đùi vì dưới đáy có may chằn một túi mỏng nhỏ giấu khoảng mười tờ bạc ngân hàng Đông Dương, 100 đồng mỗi tờ (Nó đã để lại một nửa cho các bạn đồng hành đi đường).
            "Hãy xếp lại đồ đạc !", lần này nó ra lệnh nhẹ nhàng.
            Vào lúc này, phía dưới đất nhìn qua cái cửa sổ lớn, Nguyên thấy một phụ nử Việt và hai đứa trẻ đang chơi trong sân của một nhà sàn bằng ván đối diện. Người vợ trẻ gọi tên chồng về ăn trưa.

            Nguyên nghĩ thầm : "Lấy vợ người Bắc (nghe theo giọng nói) và có hai con, chắc anh này phải ở Việt Nam từ mấy năm nay, ít ra là năm hay sáu năm, xem qua tuổi mấy đứa nhỏ. Chi tiết này có thể là thuận lợi cho ta hay là bất lợi ? Chỉ có sự rủi may mới định đoạt được sự mạo hiểm sau nầy !" 

             Ty Trưởng an ninh lôi Nguyên về hiện tại : "Chưa đến lúc ngủ ! Giấy bút đây. Anh báo cáo rỏ ràng hành trình của anh. Thế nào mà một nhà giáo ở đồng bằng lại có ý nghĩ đi lên Cao nguyên để tìm việc làm trong một đồn điền ? (nghề nghiệp được ghi ở trang hai hộ chiếu). Và nhất là anh phải nói sự thật !".

             Rồi gọi lính canh đưa nó vào trong một cái trạm dính liền với tường bao nhà tù của Ban mê thuột. Có lẽ đây là cổng chính, một kiến trúc nhà sàn nhỏ bé, được canh giử bởi một người rhadé. Chỉ có một mái, hai bức tường và sàn bằng gổ, trên đó Nguyên thu mình trong một góc dưới sự giám sát của lính canh mang súng.

             Nguyên biết đó là bị giam lỏng. Một giai đoạn chờ đợi trong thời gian điều tra nhiều mặt của công an, trước khi đưa vô nhà tù hay giao cho quân đội Pháp. Nó được giử balô và toàn bộ vật dụng của mình, kể cả cái áo mưa nhật bản. Theo mọi trường hợp nó càm thấy, nhiều hay ít cũng "bị lật tẩy", vì Ty trưởng an ninh thuộc loại xảo quyệt cố tình đưa nó vào bẩy. Vậy, nên thật cẩn thận mới có thể thoát ra được.

             Từ nhà tù, một lính canh mang cho nó bữa ăn đầu tiên : một chén cơm, một lát cá khô và ca nước uống bằng nhum. Nguyên ăn chậm rải nhai từng miếng một cho đến khi hòa tan với nước miếng.

                Ngồi trong một góc hẹp, Nguyên tìm cách định hướng vị trí. Trước mặt là một cánh rừng dày đặc cây cối. Ở giữa một con đường mòn đất đỏ chia cắt trạm canh. Phía trái bên kia đường là Đồn Hiến binh và văn phòng Sở An ninh. Sau trạm canh là nhà tù với những bức tường cao màu vàng. Bên phải là vườn cây trái văn vẳng tiếng ve kêu.  
            "- Ngao ngán quá ! Nay là lúc còn có thể hành động mà chẳng thấy đường nào tẩu thoát ! Nguyên than thở.

            Sau bữa ăn, cuộn mình trong tấm áo mưa màu be, đầu kê trên ba lô anh ta đánh một giấc cho đến sáng. Nhớ lại công việc phãi làm cho Ty trưởng An ninh, Nguyên cầm bút mở đề : "Thưa ông Ty Trưởng An ninh Ban mê thuột". Kế đến nó trình bày ngắn gọn về gia đình : nho giáo và phật tử, về ông nội, và cha nó đã làm việc trong Sở An ninh ở Huế, những bước khởi đầu trong ngành giáo dục ở Lệ Thủy và Đồng Hới, và nhất là những bất hòa với những nhà cầm quyền địa phương mà nơi đây nó suýt mất mạng như hai người bạn thân bị bó chặt trong bao bố ném xuống biển. Nó cũng nhấn mạnh về những nghiên cứu tâm linh ở thành phố này, như là tham khảo học thuyết "thần thông" của bà Blawasky, rồi những bài giáo lý của ông Krishnamurti đã giúp nó mở mắt nhìn rỏ thế giới.

            (Nguyên chủ ý nói tất cả sự thật về những sự việc thuận lợi mà gia đình trải qua ở Huế, và tránh những điều không thuận lợi, như các công tác diễn tiến ở Hà nội, Nam định và Hải phòng, may mà gia đình không biết đến. Như vậy, An ninh Huế có thể kiểm chứng và xác nhận một cách dễ dàng).

             Rồi khi người Pháp quay trở lại, nó tiếp tục, theo tinh thần hướng đạo, muốn chu du khắp đất nước để mở mắt và học hỏi. Cuối cùng, chính Pleiku nơi mà nó phải dừng chân, không thể tiếp tục hành trình theo ý muốn là về đến Sài gòn vì đường xe lửa bị mắc kẹt ở Tuy Hòa. Ở độ tuổi trưởng thành, 10 -15 tuổi, nó mê say vùng Cao Nguyên. Nó có người Dượng, cưới chị của cha nó, Phùng Duy Cần làm Quản đạo ở Pleiku, Kontum, Ban mê  thuột. Những người anh bà con, vào dịp nghỉ hè, thường hay kể chuyện về vùng đất đỏ này, về đời sống giản dị của những người dân tộc thiểu số, về núi rừng đầy voi cọp, và chính những điều này làm cho nó mơ tưởng và khích động trí tò mò.
            Viết xong, nó nhờ lính canh mang tờ khai báo đến Ban An ninh. 

             Một tuần đã qua, Nguyên nghĩ đến những đồng đội ở cách đó khoảng hơn hai chục cây số đang sống trong lo âu. Nó tự nhủ, ước gì ngày tháng trôi nhanh càng tốt, cần phải kiên tâm. Có lẻ An ninh ở đây cũng đang chờ đợi việc điều tra của các đồng sự ở Thủ đô.

            Những bửa ăn cùng một thực đơn : cơm trắng, cá khô, nước lã, hình như không ảnh hưởng đến tâm trí nó. Một hôm, sau khi thăm viếng các tù nhân, một mục sư "Tin lành" đi ngang qua trạm canh và hỏi thăm có cần gì không ?  Nguyên thừa dịp xin một cuốn "Tân Ước". - Chắc chắn được ! ông ta trả lời ".

             Ba ngày sau, nhận được sách tặng củ và rách, Nguyên cám ơn ông ta và nói  : "Với tôi, thế là đủ, khi những chữ còn đọc được !". Để giết thời gian một cách có ích, làm chủ tâm trí, nó thích đọc bất cứ loại gì, nhất là các biểu tượng văn hóa để đoán nghĩa như là một trò chơi.

            Thế rồi một ngày kia, lính canh rhadé dẫn nó qua phía bên kia con đường. Lần này viên Trưởng ty hình như ít dữ dằn hơn lần trước :
            " - Tôi đã thẩm tra những đều anh khai báo. Anh đúng là con của ông Thư ký Tòa Khâm sứ, biệt phái qua Ban An ninh Huế. Anh hãy nói cho tôi biết tại sao anh muốn làm giáo viên thay vì đi theo con đường của ông thân sinh ?
            - Tôi thích gần những đứa trẻ, vì một nhà giáo có thể làm huynh trưởng hướng đạo dễ dàng hơn là một viên chức thư ký, Nguyên đáp, kèm theo : Và có nhiều ngày nghỉ, trọn ba tháng hè. Vả lại, với những đứa trẻ, ít có vấn đề xung đột về lợi lộc hơn, so với người lớn.
            - Anh đã viết rằng : Anh không phân biệt giai cấp xã hội, anh có ý muốn nói gì ?, viên thẩm tra thay đổi chủ đề. Nguyên thấy ngay đây là một cái bẫy, câu hỏi về giai cấp là nhằm để biết người đối thoại có phải là môn đệ của Marx hay không !
            - Tôi là Phật tử, Nguyên đáp. Trong xã hội chúng tôi không có hệ thống phân chia giai cấp như ở Ấn Độ. Nhưng trong lúc tôi được sinh ra với phẩm tước hàn lâm, vì con của một vị quan, trong khi những gia nhân, kéo xe xích lô, vú em, phải xa con cái, gia đình chúng để có cái gì mà trả tiền thuế và tránh những lao động quá cực nhọc. 
            -  Anh nghĩ gì về những nông dân ? nó hỏi (có lẽ một câu hỏi cài bẩy khác !)
            - Tôi không tiếp xúc trực tiếp với họ, Nguyên đáp. Nhưng chỉ với những người giúp việc đến từ đồng ruộng như tôi vừa kể. Với tôi, đó không phải là vấn đề xã hội mà là vấn đề công bằng và nhân đạo. Tôi là một đệ tử nho giáo, được sự giáo huấn của ông nội, muốn sống một cuộc đời giúp đỡ người khác và theo tiếng gọi của lương tâm.
            - Anh quá nhiều lời, Ty trưởng cắt ngang. Hôm nay thế là đủ ! “ 
            Rồi ông ta gọi lính canh đưa Nguyên về chổ củ.

             Một tuần trôi qua, Nguyên nghĩ đến các đồng đội. Tính theo thời gian nó bị bắt thì chắc chắn đã phải rút về Củng Sơn.  " - Dù thế nào đi nữa thì bây giờ chúng cũng đã ở ngoài tầm nguy hiểm. Ta không còn trách nhiệm với chúng nữa. Ouf !, nó thở dài "

            Sự khuây khỏa không kéo dài lâu. Một lần nữa nó được dẫn tới trước ông Ty trưởng đang giận dử :          
            " Anh láo xược với tôi, nó hét to, Anh đã đến từ Pleiku hả ? Chính xác là anh đến từ đâu hả ? Bằng đường nào ?
            - Tôi đã nói ông là tôi đi xe buýt Pleiku, khởi hành từ Tuy Hòa, Nguyên đáp." 
             Không một lời, ông Ty trưởng gọi bốn người ở phòng bên cạnh (những chủ nhân xe vận tải). Rồi ông hỏi có một ai trong họ nhận ra người khách này cùng chuyến xe không. Tất cả bốn người đều lắc đầu hầu như cùng một lúc. 
            - Đã quá hơn ba mươi ngày trôi qua, làm sao họ nhớ được tôi nữa vì trong xe có rất nhiều người, Nguyên gắng phản đối.
            - Không thế được, ông Ty trưởng vặn lại, thời buổi này có ít người An nam đi lại và các ông này nhớ mặt không sai. Vã lại, cách đây độ bốn tuần có một nhóm người An nam được thấy ở buôn rhadé gần đồn điền cao su. Năm người đến nhưng chỉ có bốn ra đi sau đó. Tôi chắc chắn anh là người của nhóm này !               

            - Chính xác là tôi, Nguyên nói không do dự. Tôi đã lợi dụng cơ hội để trốn khỏi nhóm. Tôi không thể thú nhận điều này với ông ngay được vì ông sẽ không tin vào điều đó. Sau khi tìm tôi không được, bốn người này phải rời chổ đó mà đi nơi khác.  

            - Bây giờ làm thế nào để tin rằng anh không phải là Việt Minh ! Và nhiệm vụ của nhóm này là gì ?- Nhóm này thuộc cơ quan "Ban Vận động dân tộc thiểu số" có mục đích là tuyên truyền, Nguyên đáp. Vì tôi không nói được tiếng rhadé, ở đó tôi phục vụ như một nhân viên cứu thương với những  thuốc men và vật dụng băng bó. Ông chỉ cần hỏi người miền núi của các buôn để biết nhóm đi ngang qua đấy không vủ trang.
            - Tôi sẽ xem, ông Ty trưởng nói. Lần này anh mà còn nói láo nữa thì liệu hồn !
            Rồi ông ta bảo lính canh gần bên đưa Nguyên ra khỏi văn phòng. 

           Trở lại cuộc hỏi cung này Nguyên cảm thấy vừa vui vừa sợ. Vui là biết đồng đội thoát khỏi hiểm nguy, và sợ là để lộ diện bởi những câu hỏi không tiên liệu, của đối thủ.

            Từ khi bị bắt, nó thấy rằng ông Trưởng ty An ninh, mặc dầu có thái độ hăm dọa, nhưng không muốn dùng sức mạnh mà lại thích áp dụng một phương pháp tinh tế là dựa vào mưu lược để hạ gục con mồi, hay dồn nó vào bẫy. Nguyên xem như là một trận "đấu trí" tay đôi giữa hai người cùng một phong cách. Ông ta đa nghi và luôn luôn cảnh giác.

            Nguyên tự nhủ : không nên tỏ ra quá tinh quái, nhưng cứ tự nhiên và chân tình, kể cả khi bỏ qua một phần sự thật của những việc mà không nhất thiết phải giấu. Nó thích kinh nghiệm của người "đi dây trên không" giử được thăng bằng, và xem như là một ván cờ tướng, một phương thuốc hoàn hảo trị bệnh sợ hải và lo âu.

             Sau đó, Nguyên bắt đầu viết một bức thư ngắn :
            "Kính gởi Ông Ty trưởng An ninh Ban mê thuột,        
            Tôi thành thật xin lỗi ông vì đã không nói rỏ ràng về hành trình của tôi từ đồng bằng lên đến vùng Cao Nguyên. Tôi đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn và đương đầu với một tình huống khó xử. Tôi đã lầm lẫn về việc rời nhóm, tôi không muốn phạm thêm một lỗi khác nữa, vì sau việc bắt tôi, những đồng đội củ sẻ bị đặt vào tình thế nguy hiểm. Đối với một phật tử nho giáo, như thế là tôi thiếu nhân tính, và hướng đạo sinh là vi phạm lời thề làm việc tốt, giúp đỡ người khác. Tôi không thể suy nghĩ và hành động như một con người không danh dự và vô nhân phẩm. Tôi biết rằng việc tố giác những đồng đội củ sẽ giúp tôi thoát khỏi cảnh ngộ hiện nay. Nhưng sự tự do này sẽ đè nặng lên tôi suốt cả cuộc đời, một sức nặng không thể chịu nổi. Thế đó, tôi tỏ bày với ông tất cả những rạo rực xảy ra trong thân tâm, và xin đặt số phận của tôi trong tay ông ! … Kính xin Ông Ty trưởng thông cãm …"

            Khi đọc lại bức thư, Nguyên thấy có tính cách hài kịch, đạo đức giả, nhưng mặc kệ, nó tự nhủ, nên chơi đúng luật. Rồi nhờ lính canh chuyển thư như lần trước.

             Hai ngày sau, nó được gọi đến gặp ông ta, còn giận dử, hay làm ra vẻ. Vừa ngồi xuống, ông ta tấn công ngay :
            " -  Cảm tính của anh đối với nước Pháp là như thế nào ?       
            - Tôi thích nước Pháp là vì văn hóa, cũng như những giáo sư pháp khoan dung hơn một số giáo sư trong nước tôi, tôi đáp.                
-  Nhóm tuyên truyền của anh trong các buôn làng là những tên phản nghịch, chúng hoạt động chống lại quyền lợi của nước Pháp.            
            -  Công việc của những người này, không vũ trang, không bắt buộc, là nhằm kêu gọi sự đoàn kết và tương trợ lẫn nhau giữa những người kinh và dân tộc thiểu số sống cùng nhau trên một đất nước. Vì không nói được ngôn ngữ của họ nên vai trò của tôi chỉ là người cứu thương.
             -  Nhưng che chở bảo vệ đồng đội anh cũng là phản nghịch, một tay cộng sản như chúng, ông ta cao giọng vặn lại, vẻ hung dữ. Anh đã phản bội nước Pháp !
            Nguyên im lặng, làm ra vẻ rối loạn, thua cuộc. Lúc này, trong tâm khảm nó muốn la to : "Nhưng tôi không phản bội tổ quốc tôi, lương tâm tôi !" nhưng phải nén lại. Nó tự nhủ : "Mày phải trả giá đắt cho lời mạo phạm này đấy !".      
            Giử vẻ tiu nghỉu, nó vừa rời phòng vừa tìm lối thoát thuận lợi. "Mau lên !" người lính canh hối thúc nó để đưa về trạm canh. 

             Ngay khi trở về trên sàn gổ, Nguyên quyết định viết bức thư thứ ba, cái cuối cùng.               "Kính thưa ông Ty trưởng An ninh… Tôi thành thật xin lỗi ông là đã làm ông giận. Vì có một khoảng cách lớn giữa quan điểm của chúng tôi và cách thức quan niệm những sự việc. Tôi không phải là người cộng sản. Về mặt chinh trị, những người tình nguyện gia nhập đảng là những nhà lãnh đạo, trong khi tôi chỉ là một công dân thật tình yêu quê hương và hành động tùy theo phương tiện và khả năng riêng của mình.
            Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai vừa kết thúc, ở nước Pháp cũng như mọi nơi khác, tất cả các nước bị chiếm đóng đều đấu tranh vì độc lập và tự do của chúng. Nhưng đất nước tôi muốn hợp tác với đất nước ông về phương diện văn hóa và nhất là kinh tế, vì chúng tôi còn rất lạc hậu về mặt này.
            Một cá nhân hoàn toàn đơn độc và cạn kiệt như tôi thì không thể đi ngược lại ý chí của đa số năng động và quả quyết.
            Nếu ông suy tưởng hay ông nhận định là tôi đã gây thiệt hại cho nước Pháp, hay là tôi yêu tổ quốc tôi hơn nước Pháp, tôi không dám cãi lời ông. Tôi thành thực xin ông được rời trạm canh để qua nhà tù bên cạnh. Ngoài ra, tôi yêu cầu ông thông báo cho gia đình tôi ở Huế về việc giam giử tôi ở vùng này.
            Trong khi chờ đợi, xin Ông Ty trưởng nhận lấy sự kính nễ và lòng tri ân của tôi".

            Một tuần, rồi hai tuần trôi qua mà không có một tin tức nào từ phía bên kia đường, Nguyên bắt đầu lo âu.

            Rồi cuối một buổi chiều, khoảng sáu giờ tối, anh ta nghe tiếng xôn xao bên kia đường. Loanh quanh bên chiếc xe Ford già nua, viên hiến binh đã dẫn nó từ đồn điền đến Ban mê thuột. Nhận thấy Nguyên chào, nó cười và vẩy tay kêu to : "Xin chào nhà báo !". Nó tưởng là anh ta nói với người nào khác, nhưng nhận thấy chỉ có mình liên quan. Không có ai ở phía sau nó, bên phải không có, bên trái cũng không ! Nhưng tại sao là "nhà báo" ? Cuối cùng nó hiểu rằng tay hiến binh chắc chắn đã đọc các bức thư của nó và cho là  thể văn báo chí. "Sao cũng được, lòng thiện cảm ấy, ít ra là nó không đối xử với mình như quân thù, Nguyên tự nhủ". Ông Ty trưởng An ninh đến, vất súng lên xe và ngồi vào trong không thèm liếc mắt về phía trạm canh. Xe nổ máy khởi động ồn ào, thổi tung đám bụi đất đỏ.

             Thình lình, một cảm giác kỳ lạ xâm chiếm cả mgười Nguyên, xao xuyến cùng lúc con tim và tinh thần, một cơn bốc hỏa đột nhập vào nó rồi rút ra không để lại dấu vết gì cả. "Cái gì đó sắp đến với ta hay có cái gì sắp đến nơi ! nó nghĩ. Bof ! Chính hai người kia đi săn thú và có thể gặp những tai nạn, trong khi ta đang được an toàn trong góc này". Ăn tối xong nó nhanh chóng đi ngủ. 

            Vào nửa đêm, Nguyên cảm thấy có người kéo nhẹ cái áo mưa đang dùng làm mền đắp. Thức giấc, nó thấy trước mặt một người rhadé núp sau các cột nền nhà sàn. Dưới ánh sáng trăng nhợt nhạt, anh ta ngoi đầu lên và tuôn ra một câu tiếng rhadé có lẫn hai chử  "Việt Minh". Nguyên trả lời : " Tôi không nói được tiếng của anh và không biết điều gì anh muốn nói". Bấy giờ anh miền núi này bắt đầu nói khá sành sỏi tiếng việt :
            " - Tôi muốn giúp anh trốn khỏi nơi này để đưa anh đến chổ người Việt rất gần vì tôi cũng là một Việt Minh như anh".
             Tức thì, Nguyên đánh hơi một cái bẫy : Sau cuộc dàn cảnh sửa soạn khởi hành đi săn, lại có một người đến đề nghị điều kiện trốn thoát dễ dàng.
            " - Tôi không phải là Việt Minh, người thủ lĩnh, chỉ là một nhân viên "cứu thương", muốn giúp đỡ dân tộc anh theo phương cách của tôi, Nguyên đáp. Tôi cám ơn anh đã bất chấp nguy hiểm đến để giúp tôi. Thật sự là tôi không có can đảm chạy trốn “.
               " - Anh phải biết rằng nếu anh ở lại người Pháp có thể xử bắn anh, tên miền núi gằn giọng đe dọa.
            - Nước Pháp là một dân tộc văn minh tôn trọng quy ước quốc tế, Nguyên đáp. Người Pháp không thể giết tất cả những ai không muốn đi theo họ. Vả lại nếu tôi rời đây trót lọt, các đồng chí Việt Minh của anh biết là tôi đã bị nhà cầm quyền Pháp bắt, sẽ hồ nghi với suy nghĩ là chính nhà cầm quyền gởi tôi về lại với họ đễ thám thính, thế là tôi cũng có thể mất  mạng với chúng ! Tôi lại lâm vào tình trạng nguy kịch, hay là thảm kịch. Hiện nay tôi chỉ tin tưởng vào sự khoan dung của chính quyền Pháp “.            

             Những lý lẽ của Nguyên làm cho tay miền núi bàng hoàng, anh ta thử đặt một cái bẫy khác :               
            " - Anh không muốn trốn đi, đó là lựa chọn của anh, nhưng khi quay về tôi sẽ nói gì với những người Việt Minh ?           
            - Anh kể lại cho họ điều gì anh muốn, tôi đã nêu ra với anh những lý do mà tôi từ chối rời khỏi nơi này. Một lần nữa tôi cám ơn về sự giúp đỡ và thiện ý của anh, Nguyên kết luận".

           Tiu nghỉu, người rhadé rút lui không nói một lời trong đêm tối không trăng, luồn lách vượt qua những thân cây cao su. Nguyên nhìn về phía lính canh đang ngáy khò khò hay giả bộ. Chắc chắn rằng anh ta chỉ ngủ một mắt trong khi mắt kia giám sát cảnh tượng vừa xẩy ra.                          
           Nguyên thở ra thoải mái như là vừa thành công giải thích một ván cờ thế (cờ tướng). Nó thử  ngủ lại nhưng không tài nào nhắm mắt. Nó lại nghĩ về cái bẫy giăng ra của hai anh thợ săn. Nếu nó đi theo kẻ mạo danh cứu nạn (tên này chỉ là một "con cừu" thuộc Ty An ninh), một hay hai tay súng săn chắc chắn phục kích nó ở góc rừng đối diện. Bản tin chinh thức sẽ được phát hành một cách ngắn gọn : "Đêm qua, một tù nhân Việt Minh đã bị bắn hạ vì mưu toan tẩu thoát". Một cái rùng minh chạy khắp toàn thân nó.  

            Nguyên kiểm định lại cuộc đàm thoại vừa qua, khi nó đối đáp với người miền núi, hình như có ai giúp hay núp sau anh ta đễ trả lời thế. Mặt khác, nó cảm nghĩ là không nói trực tiếp với người rhadé, mà có ý chuyển lời nói đó, qua "con cừu" này, đến tai viên Ty trưởng An ninh.        

             Nghĩ tới nghĩ lui không ngừng, nó đã nghe tiếng gà gáy chào hừng đông. Tiếng động cơ xe báo hiệu các thợ săn trở về. Nguyên giả đò ngủ, hé một mắt nhìn : Hai tên này tay không trở về yên lặng không mang theo con thú nào cả. Nó tận hưởng sự may mắn là đã thoát được cái bẫy lớn và ngủ trở lại.         

             Vài ngày sau, nó được di chuyển từ trạm canh đến nhà tù. Nguyên tin rằng mình sẽ vào  một phòng biệt giam, nhưng nó không thấy những nơi đóng kín. Đó là một nhà ngủ tập thể lớn với sàn bằng gổ dài và rộng hình dạng mè nhẵn bóng, trên đó có vài tù nhân cùng balô, trong khi những tù nhân khác đi dạo lòng vòng dưới sân xi măng, có lẽ vận động để tránh chân bị tê cóng.

             Một thanh niên trẻ trạc độ hai mươi tuổi, tươi cười chỉ cho người mới đến một chổ gần nó. Nguyên cám ơn anh ta và đặt balô xuống đó. Người nằm dài bên phải nó, lớn tuổi hơn, nhìn nó mà không nói một lời. Chàng trẻ hơn tự giới thiệu là cư dân Quảng Nam, hạ sĩ trong Quân đội Giải phóng. Rồi anh ta chỉ người bên cạnh, khoảng độ ba mươi tuổi, giáo viên tỉnh Phan Thiết, đại úy Quân đội Giải phóng. Nguyên kể cho họ là mình đã làm việc trong Ban "Vận động Dân tộc thiểu số" và bị bắt trong đồn điền cao su.

             Tiếp theo, hai người đi ra cái sân lớn gần một bức tường cao bọc quanh bốn phía nhà tù. Bên phải có một vườn trái cây nhỏ. Bên trái Nguyên thấy những tù nhân đang vây quanh một vòi nước máy để giặt áo quần. Sau vòi nước, dựa sát tường nhà tù là một mái nhà nhỏ dùng làm nhà bếp và nhà ăn của tù nhân.
            Vài đầu bếp làm việc xung quanh tấm ván gổ lớn dùng làm bàn. Những người này xắt cà rốt, những người kia thì cắt cải, su, rồi cho hết vào trong cái chảo lớn bằng thiếc đặt trên lò đun củi. Rồi chúng thêm vào đó muối và hai đồ hộp "thịt bò mỹ". Nguyên đã thưởng thức trước bữa ăn này. Đây sẽ là bữa tiệc đầu tiên với rau quả thay vì muôn thuở là cơm hẩm và cá khô. Nó không thất vọng về bữa ăn này và đánh giấc ngủ trưa ngon lành. Môt ngày khác là những miếng cá bự xào với rau trái, cách này cho một hương vị ngon miệng hơn thực đơn củ ở trạm canh. 

             Nguyên tự an ủi, tưởng tượng như được bắt buộc nghỉ hè trong khí hậu mát mẻ của cao nguyên. Thế rồi một buổi sang, đang rửa mặt ở vòi nước, nó thấy một thanh niên rhadé nhanh nhẹn lẻ loi giữa những tù nhân việt. Nghi ngờ lúc mới thấy lần đầu, nó đoán là anh ta sẻ tìm đến nó. Quả thật anh ta sà vào nó vừa hỏi bằng tiếng pháp :          
            " -  Tôi đã đọc thư anh, viết hay, mạnh mẻ nhưng hơi ngông và ngây ngô.              
            -  Làm thế nào mà anh có thể đọc thư tôi ? Nguyên chất vấn.       
            -  Tôi là nhân viên ở  tòa "Công sứ Ban mê thuột", anh ta đáp. Bị vào tù vì thân cận với người việt. Anh là nhà báo hả ?                            
            -  Chưa hề bao giờ, Nguyên đáp. Tôi luôn luôn là nhà giáo, nhưng tôi đã có cơ hội đọc nhiều sách pháp.                                        
             -  Hãy kể tôi câu chuyện của anh, nó nói thêm. Tôi thích sống ở đồng bằng vì ở đó đời sống náo nhiệt và vui vẽ hơn ở đây.                          
            -  Một ngày khác khi tôi có thì giờ, Nguyên nói và lánh xa.                           
            Rồi nó tìm cách tránh người miền núi bám theo như con đỉa, biết đó là một mưu mô bị lật tẩy. Nhà báo ư ? Chắc chắn là anh ta đã tiếp xúc với tay hiến binh mới biết được hai chữ này, Nguyên càng nghi ngại thêm.
            Vài ngày sau, "con cừu" biến mất !          

             Nguyên hài lòng là có anh hạ sĩ để tán gẫu mọi chuện. Một lần, anh ta đã giễu cợt nó một cách vui tươi khi thấy nó thường xuyên chui đầu vào cuốn Tân Ước :
            " - Bây giờ  "mệ" sắp theo đạo công giáo há !". Biết là Nguyên gốc Huế, anh ta so sánh nó với mấy hoàng thân của Hoàng tộc có phong cách khoan thai, thận trọng nghi lễ được gọi bằng "mệ". Nguyên chỉ cười xòa. Viên đại úy nghiền ngẫm trong góc không thèm nhìn những kẻ tán gẫu.                      

            Chán đọc trong Tân Ước những chuyện "tượng trưng" đôi khi chỉ hiểu có một phần, Nguyên nghĩ đến chơi "cờ tướng". Nó tạo ra một bàn cờ bằng bìa dày mà một anh đầu bếp đã cho nó khi khui các thùng hàng. Bấy giờ anh đại úy mới rời bỏ thái độ im lặng, giúp nó cắt những quân cờ tròn, trên đó anh ghi tên bằng chữ hán. Bây giờ cả hai đã tìm được một phương pháp để "giết thời gian". Anh hạ sĩ trẻ có vẻ hơi ganh tị vì như bị bỏ lơ.            

             Nhưng thời gian cứ kéo dài. Nằm ngữa mặt lên trần, Nguyên thấy mấy con thằn lằn bò qua bò lại. Thỉnh thoảng nghe tiếng rao hàng của thằng bé bán đậu phụng vọng qua dãy tường thành, nó bắt đầu thèm địa vị thằng bé được tự do đi lại bên ngoài …    

             Bên phải nó, xa hơn một chút, trên cùng sàn gổ đánh bóng, một nhóm tù nhân khác chơi bài suốt ngày lẫn đêm hầu như không nghỉ. Không ai biết thế nào và tại sao chúng bị bắt. Giữa họ, có một người lớn tách riêng ra, điềm tĩnh và đứng đắn, mặc bộ bà ba đen (y phục của quân du kích). " - Con cừu hay chiến binh thật đây ?", Nguyên tự hỏi.    

             Anh hạ sĩ trẻ thường đến nơi những người chơi bài cho Nguyên biết rằng đó là một ông thầy pháp thuật có khả năng tàng hình và nếu muốn thì nó giới thiệu. Lúc đó Nguyên nhớ lại thời làm giáo viên ở Đồng Hới, nó đã thích thú với các bài giảng về Thông Thần Học và những năng lực của "ma thuật trắng" (đối kháng vói "ma thuật đen" có tính chất ma quỷ).                            

             Bằng sức mạnh tâm linh, với sự luyện tập, con người có thể làm chủ bản thân, như Bà Blawasky (sáng lập Hội Thông Thần học) có thể nhúc nhích hai lổ tai, hay một người luyện yoga có thể làm tan tuyết trên cơ thể ở tư thế thiền định.                
             Trước đây vì không có thời giờ nên nó không có cơ hội thực nghiệm những kỹ năng này. Nhưng ở hoàn cảnh hiện nay, nhà tù này sẽ là nơi lý tưởng để tập kiên trì và rèn luyện sức mạnh tâm linh.                                    

             Qua trung gian anh hạ sĩ trẻ, Nguyên đã làm quen với ông Thầy pháp và một đêm nó xin ông nhận làm đệ tử. Sau lần đầu bị từ chối, nó nằng nỉ và cuối cùng được ông đồng ý. Ông Thầy nói chờ ngày giờ tốt để làm nghi thức (nhập môn), ông sẽ làm phép cho nó vào thời khắc thích hợp.

            Một đêm, Thầy pháp đến đánh thức Nguyên dậy dắt vào góc xa. Dưới ánh đèn chong, ông bắt đầu rì rầm đọc một câu thần chú bằng tiếng tàu rồi viết những chữ ngoằn ngoèo trên dải giấy mỏng dài và hẹp rút ra từ túi quần. Rồi ông đưa lá bùa cho Nguyên ngậm trong miệng và nuốt lống. Tiếp theo, ông dặn dò nó : mỗi đêm cùng một giờ ngồi ở tư thế thiền để hủy bỏ tư duy và cảm xúc riêng.                        
            " - Lúc đầu thật khó khăn, ông nói với nó, nhưng đến lúc anh đạt được trình độ chế ngự nào đó thì hãy đến gặp tôi để tôi cho anh một lá bùa khác mà nuốt và những chỉ dẫn mới". Sau cùng Ông lặng lẽ rời đi về ngủ tiếp.                       

             Ngày hôm sau Nguyên bắt đầu luyện tập vào lúc nữa đêm. Nó nhớ lại là đã thực tập việc này ở Đông Hới nhưng không nuốt những lá bùa ma quái đó. Đó cũng chính là kỹ năng thiền của đạo Phật. Biết cách trầm tỉnh và bình tâm bằng cách làm chủ cơ thể là một phương pháp cần thiết để sống thanh bình và vượt qua những trở ngại của cuộc đời. Nếu nó không đạt đến cõi hư vô hay rời bỏ thân xác để tìm ra phương cách thoát khỏi các điều phiền hà thì ít ra với việc luyện tập này nó cũng thu được bổ ích cho sức khỏe về cơ thể và tinh thần.                 

             Một đêm, anh hạ sĩ bắt gặp Nguyên ngồi yên lặng, đầu gối và bàn chân xếp lại :  
            - Anh làm chi đó, bất động như một bù nhìn ? À ! chắc chắn là "mệ" muốn trở thành Phật ! anh ta đùa cợt.                 
           " - Nhờ Thầy pháp của anh mà tôi đang tâp kỹ năng tàng hình để thoát ra nhà tù, Nguyên nói. Bộ anh muốn ở mãi mãi trong ký túc xá này sao ? “                        

             Những tù nhân Ban mê thuột không đi lao động, trừ ra những người làm bếp. Hằng ngày, Nguyên trãi qua từ chơi cờ tướng đến đọc một chương cuốn Tân Ước, từ tán gẫu đến tập ngồi thiền, nó còn thêm môn thôi miên và rèn luyện trí nhớ.                    

            Đột nhiên, ông Thầy pháp bỏ nó nữa chừng và biến mất như là hóa phép thần thông, như người thanh niên rhadé. Tưởng là một chiến binh kỳ cựu muốn tìm một sự trợ giúp giữa những đồng đội khác, nó chỉ gặp một tay khờ khạo và hoài nghi muốn đóng vai "người tàng hình" như trên màn điện ảnh. Khi được báo cáo của "con cừu" này, những ông thu dụng nó chắc cười bể bụng. Nhưng "chúng" không lui bước vì lẽ đang bao quanh con mồi.                       

            Một ngày kia, Nguyên nhận được một bánh thuốc hút tẩu mà người ta giao lại từ một người ở ngoài nhà tù, cho rằng biết nó, nhưng từ chối không cho biết tên. Người hưởng ân huệ bóp trán để biết ai là người gởi bí mật này vì nó không nhớ có bà con trong vùng núi non này. Vả lại, nếu là người quen thì phải biết nó là người không hút thuốc tẩu, không hút thuốc lá ! Nó sắp bánh thuốc lào trong hành lý không nghĩ ngợi gì thêm.                        
 
            Ngày kế tiếp, đang rửa ráy, từ phía bên kia vòi nước đối diện Nguyên thấy anh hướng dẫn rhadé củ nhìn nó chằm chằm. Bất ngờ trước sự xuất hiện này Nguyên bình tỉnh và quay đầu đi chổ khác. "Trời ơi ! Nguyên tự nhủ, đồng đội củ của ta cũng bị bắt như ta, tội nghiệp quá!". Rồi ngày sau, nó giúi cho anh ta bánh thuốc lào, Chàng rhadé nhét bánh thuốc vào túi không thốt ra một lời, không cái nhìn cám ơn.  

             Chính vào lúc này, Nguyên mới nhận thức ra là đã hành động ngu ngốc : "Chúng nó đã tóm được mình ! Mình thực sự đã bị sập bẫy, tay chân bị trói trong bẫy chúng rồi", nó tự trách.                           
            "Làm thế nào mà mình không thể suy tưởng được là "con cừu" rhadé này có mặt ở đây chỉ có mục đích là để xác minh, nhận biết mình ? Và để chắc chắn, chúng nó còn bày trò bánh thuốc lào, biết rằng là hướng đạo sinh như mình không cưỡng lại "làm việc tốt" (BA) hằng ngày !

            Một bài học tâm lý quá siêu ! Diễn đạt rất đúng, mình thấy sai rồi !                       
            Nhưng đó chỉ là mới thua một ván cờ, ta hãy chờ cuộc găp gở tiếp theo sắp tới !"                                               

          

                         Pleiku - Saigon - Huê   Janvier 1948 - Février 1948.

            Quả thật, một tuần sau Nguyên bị chuyển đi từ Ban mê thuột đến Pleiku nơi đặt tổng hành dinh quân lực Pháp. Tưởng là đến một nhà tù khác, nhưng lính rhadé dẫn Nguyên vào giữa khu rừng đến một chòi nhỏ bằng lá dừa. Ở trong, khoảng chừng bốn thước vuông, hai nữa thân cây được ghép lại làm dường ngủ. Cái balô hướng đạo bị tịch thu, tù nhân chỉ giử lại được chiếc áo mưa nhật bản thôi. Người lính khóa cửa khi rời đi.

             Ngã lưng xuống, Nguyên nghĩ lại chuỗi ngày ở nhà tù Ban mê thuột. Khoảng gần năm tháng qua, như là được nghĩ ngơi bất đắc dĩ, duỗi thân trên sạp gổ bóng loáng, tán gẫu hay chơi cờ tướng với những bạn tù, có thể tự do đi lại và tập thể dục sau bốn bức tường.

            Thình lình, nó nghe hai tiếng gõ cửa, lách tách mở khóa, rồi lính gác rhadé mang vào một cái cà mèn nhôm đựng cơm thiu với nhúm muối sống. Nguyên ăn cơm với muối vừa dùng lưỡi lừa tránh nhiều hạt cát. 
            "Tất nhiên, đây là giai đoạn khổ nhục. Mình bị chuyển tới đây hay đúng hơn là chúng giao mình cho quân đội. Mình bị trừng phạt bởi cái ngu xuẩn của chính mình. Nhưng nếu lúc đó mình không cho nó bánh thuốc lào, tay hướng dẫn rhadé cũng sẽ tố cáo mình, nó tự an ủi. Các điều tệ hại sẽ đến. Hãy thận trọng, coi chừng ! “.

           Ngày kế tiếp, lính gác rhadé dẫn nó đến văn phòng một sĩ quan pháp, vóc dáng to lớn, mang hai lon  trên mỗi cầu vai, cái khăn quàn cột treo cánh tay trái. Viên trung úy với vẻ giận giử hỏi nó đến từ đâu và tại sao lại chọn vùng núi non này. Nguyên lặp lại chính xác các lời khai đã tường thuật với ông Ty trưởng công an Célicourt ở Ban mê thuột và nói thêm là nó chỉ là một nhân viên cứu thương không vũ trang. Cuộc chất vấn kéo dài khoảng mười lăm phút.
            " - Nhưng mày cũng là một Việt Minh !         
             - Tôi không phải là một chiến sĩ Việt Minh nhưng là một công dân của một đất nước đang có chiến tranh, nó đáp.           
             - Chiến binh hay không, các anh là những quân phản nghịch phải bị loại trừ ! Tay sĩ quan la to. Rồi ông ta với dấu tay ra lệnh lính canh đưa tù nhân ra ngoài.    

             Quay về lại cái chòi riêng biệt, Nguyên nhận tiếp khẩu phần "cơm-muối" buổi trưa. Nhưng buổi tối, thay vì người lính canh rhadé, một người đồng hương trẻ, tươi cười mang đến cho nó bữa ăn tối trong một cái khay bằng nhôm đựng nhiều thứ, nào là khoai, su, cà rốt lõng bõng vài miếng thịt bò hộp mỹ.
            Anh này tự giới thiệu là một tù binh chiến tranh đến từ mặt trận Nha Trang, hiện nay làm nhân viên đầu bếp của Đại úy. Sau bữa ăn, anh ta đã thừa lúc nghỉ để đem lại một phần ăn.      
           " - Nơi này là đâu ? Nguyên hỏi anh ta. Có nhà tù không ?                       
           - Đây là doanh trại quân đội, ở đây cũng có vài tù binh như tôi làm việc, anh ta đáp, rồi nói thêm : nên cẩn thận với tay trung úy, ông ta vừa bị thương trong một trận giao chiến với quân đội chúng ta. Ông ta lại càng hung dữ hơn.            
            - Tôi đã thấy, Nguyên đáp. Nhưng thế nào mà anh biết điều đó !                
            - Ở đây mọi người đều biết điều gì xảy ra, thưa Đại úy ! Anh ta cười nói.         
            - Hô là ! Tôi không phải là đại úy, tôi chỉ là một nhân viên cứu thương, Nguyên cũng vừa cười vừa phản bác.    
            - Nhưng anh không có vẻ là một y tá, anh ta nói và lắc đầu.  
            - Vậy theo anh thế nào là dáng dấp của một y tá ? "                
            Người đầu bếp đành cười hì.          
            Nguyên tự hỏi có phải nó lại đối đầu với một "con cừu" khác nữa sao ? "Cảnh giác" !.               
            Ngày hôm sau, người đầu bếp mang cho nó ăn uống như lần trước. 
            " - Tôi không nghe nói đến "Ban Vận động dân tộc thiểu số". Chính xác nó phục vụ cái gì ? người đầu bếp hỏi nó.              
             - Cơ quan này không có ở đồng bằng, Nguyên đáp. Nó được thành lập đặc biệt cho Cao nguyên để tập hợp các người dân miền núi trong quan hệ với Việt Nam. Đó là một ban tuyên truyền vận động, không bắt buộc, không cưỡng bức, nhưng kêu gọi sự tương trợ và đoàn kết của các bộ tộc sống trong cùng một đất nước. Chỉ thế thôi !"

             Ngày kế tiếp, lính gác rhadé đến bảo nó : "Ngày mai mày phải đi dọn phòng vệ sinh của Đại úy". Buổi tối khi tay đầu bếp mang đồ ăn đến, Nguyên nói với anh ta :
            " - Ngày mai tôi phải đi chùi nhà cầu của Đại úy.        
            - Nhưng anh là tù binh chiến tranh cùng cấp bậc với ông ta. Ông ta muốn làm mất thể diện quân đội chúng ta. Không nên đi làm như vậy !"
            Nguyên chỉ nghĩ đến vấn đề tự ái, quên chuyện cảnh giác. Nó từ chối thẳng thừng khi người lính canh đến bảo đi làm công việc nhục nhã này !                           

            Tay đầu bếp đem đến bữa ăn trưa tán thành khi nghe được lời từ chối :             
            " - Anh đã có một quyết định đúng đắn. Nếu anh đi làm điều đó thì anh sẽ làm mất mặt chúng ta, những tù binh chiến tranh khác". Nguyên cảm thấy được tâng bốc về sự can đảm của mình. 

               Hôm sau, người lính rhadé đưa nó đến trước tay trung úy bị thương, đứng giữa bãi đất trống có độ mười tù nhân ở hai bên, phải và trái.        
              "Điều này có vẻ dàn cảnh gì đây ?,  Nguyên ngẫm nghĩ, khi viên sĩ quan nghiêm khắc hỏi lính canh :    
              - Có chuyện gì hả ?             
              - Tôi đã nhận lệnh điệu nó đến dọn phòng vệ sinh của Đại úy nhưng nó gây sự, lính rhadé trả lời vừa chỉ tay vào Nguyên.                
              - Nó muốn gây sự há ?  À được, nó sẽ thấy ! Viên trung úy to giọng".
                Ông ta ra lệnh cho một lính canh khác đem lại một cái roi mây cho người lính rhadé đã cáo buộc tù binh. Rồi với tầm vóc to lớn ông ta nhìn Nguyên bằng vẻ thách đố và ngạo mạn.

              "Tội nghiệp kẻ ngu đần, mày đã bị sập bẫy nữa rồi ! Lần này ông ta muốn nhục mạ mày ! Làm thế nào mà mày thoát ra đây ? Phải chơi cho trọn lá bài, Nguyên tự nhủ".    
               Lính rhadé bảo nó nằm sát đất. Nguyên do dự, nhưng thấy ánh mắt của tay sĩ quan nhìn về phía hai lính canh nên tự nằm áp bụng xuống đất để tránh sự can thiệp của bọn chúng. Bấy giờ tay rhadé cầm roi mây quất từng cú mạnh trên lưng và mông của tù binh.      
               Nguyên cảm nhận nó có thể chịu đựng được nỗi đau đớn nhưng nghĩ rằng đây không phải là lúc tỏ vẻ gan lì hay muốn làm bộ anh hùng trước những tù binh khác. Thế là nó bắt đầu rên la to tiếng đến nỗi mười dặm xung quanh vẫn nghe được, ngay cả khi cái roi mây chưa đụng đến ! Tay rhadé thấm mệt, ngừng một lúc để lấy lại hơi sức. Viên sĩ quan quát tù binh : "Mày phải nói lời xin lỗi ông ta đi !". Thế là Nguyên quay về phía tay lính gác và nói : "Xin lỗi ! Xin lỗi !" và hai tay chắp lại vái nhanh từ trên xuống dưới như dấu hiệu phục tùng của một nông dân trước một quan lớn. Viên sĩ quan cười thỏa mãn và cho lệnh ngừng phạt. Ông ta còn thêm :
            " - Mày còn phải hứa là vâng lời theo lệnh chùi dọn WC nghe !            
            - Tôi xin hứa điều đó, Nguyên nói".                  

            Viên sĩ quan ra hiệu cho lính canh đưa tù nhân về chòi trong tiếng xầm xì và những ánh mắt nhìn bất phục của số tù binh khác có mặt.        
                             

            Bữa ăn tối, người đầu bếp nói với nó :      
            " - Sáng nay chúng tôi thực sự cảm thấy như là bị sỉ nhục.    
            - Chỉ một phần nào thôi, Nguyên cười nói. Dù sao người rhadé cũng là cùng quê hương chúng ta. Sẽ là nhục hơn nếu tay trung úy cầm roi mây. Anh thấy đó, nó nói thêm, tôi chỉ là một kẻ hèn kém, không phải là đại úy như các anh tưởng".             

            Đêm đó, lưng đau nhức, mông ê ẩm nên Nguyên chỉ nằm nghiêng mà ngủ.  
            "- Củng chẳng đau đớn nhiều về thể xác, nó tự an ủi. Về mặt tình cảm mình nhận thấy không nhục nhã chút nào. Đóng trọn vai trò của mình, và đó chỉ là vấn đề tự ái mà thôi. Trong thâm tâm, không có gì có thể chạm đến phẩm chất mình được.
            Càng trăn trở, càng khó nhắm mắt.                                           

             " - Ngày mai, mình sẽ đi lau chùi phòng vệ sinh, nó nhắc lại một lần nữa. Không phải vì lý do sợ hình phạt. Đó là một thách đố, một thử nghiệm trên đường đời. Cách đây hai năm, mình đã đào những hố xí ở trại Tự Vệ Thành Hà Nội, và vị chỉ huy đã đánh giá mình một cách thuận lợi vì tính vâng lời đương nhiên không đối kháng. Bây giờ, công việc chùi rữa nhỏ này sẽ không làm mình chán chường, dù là việc phục vụ đối phương. Phải để tự ái vào trong túi. Phải biết hạ mình khi cần thiết để chờ thời cơ thuận tiện.
            Vả lại, đây củng là một điều tất yếu. Trong trường hợp mà mình dễ dàng vâng lời lệnh dọn phòng vệ sinh thì dĩ nhiên tránh được hình phạt, nhưng những sĩ quan đối phương sẽ suy luận rằng kẻ đối diện với họ là một người có cá tính lão luyện, tức là nguy hiểm thì nên nhanh chóng loại bỏ. Vậy thì tốt hơn là chịu đựng những cú roi mây, rên la đau đớn, rồi hạ mình xuống một cách tự nhiên mở lời xin lỗi để cứu lấy tấm thân, và tỏ ra như một kẻ yếu hèn … ! Thôi, đừng quá băn khoăn nửa !". 
             Bấy giờ, Nguyên nghe xa xa tiếng gà gáy sáng, và giấc ngủ đã trôi qua.   

              Gần trưa, Nguyên linh cảm có người đứng trước chòi. Cửa mở, một sĩ quan người Việt đi vào với bộ đồng phục trung úy Pháp :    
             " - Tôi được tin hôm qua anh đã bị hành hạ vì anh đã từ chối đi dọn phòng vệ sinh WC, anh ta nói không mào đề. Bây giờ sức khỏe anh thế nào ?            
               -  Ít đau hơn hôm qua, Nguyên trả lời.         
               - Tôi đã xem xét hồ sơ của anh được chuyển đến từ Ban mê thuột, anh ta tiếp lời. Anh phải được xem như là một tù binh chiến tranh. Không đồng ý về sự ngược đãi này, tôi đã đề nghị Đại úy được đến thăm anh, vì nhiệm vụ của tôi là phụ trách phạm vi xét hỏi các tù binh bị bắt trong lãnh địa Pleiku.
              - Cám ơn trung úy, Nguyên dè dặt nói vì chưa tin người lạ mặt đối diện.         
               - Trong ba lô của anh, tôi đã chú ý đến cái khăn quàng và huy hiệu hướng đạo sinh. Anh ở trong thiếu đoàn nào tại Huế ?                
               -  "Đinh Bộ Lĩnh", tôi là Phó đoàn trưởng đoàn Hồ Khuê, và tráng sinh của đoàn Tráng Thông, Nguyên trả lời.             
              -  Tôi biết rõ Tráng Thông vì tôi là tráng sinh của Tráng đoàn Tạ Quang Bửu và học trò của ông ta ở trường Thiên Hữu, viên sĩ quan nói tiếp. Tôi tên là Hoàng, thông dịch viên của doanh trại.
               -  Anh có thể cho tôi biết tình hình chính trị hiện nay ở Huế được không ? Nguyên liều lĩnh hỏi vì nhận thấy có chút gì thiện cảm nơi người đối thoại có vẻ chân thành và tự nhiên.
               -  Vào lúc này, Trần văn Lý là Thủ hiến Trung kỳ, Nguyển Khoa Toàn, Tỉnh trưởng Thừa Thiên, anh ta đáp. Đó là tất cả những tin mà tôi mới biết được 
            -  Ồ ! Thật sự là tôi có may mắn, Nguyên nói, vui sướng lộ ra mặt. Cha tôi là đồng nghiệp củ của Thủ hiến, và anh em họ với Tỉnh trưởng. Anh có thể vui lòng giúp đở thông tin cho họ biết là hiện nay tôi đang bị giam giử tại đây không ?
           -  Anh có thể tin tưởng ở tôi. Hãy yên tâm ! Hoàng nói vừa cùng nhau bắt tay trái." Thế rồi viên sĩ quan rút lui.

            Nguyên hớn hở : "Chính nhờ những cú roi mây mà được ông Trời gởi cho mình một vị cứu tinh trong lúc vô hy vọng. Nếu không, trong trường hợp mình không cần đến thông dịch viên, thì làm sao mình có thể gặp được người hướng đạo sinh vui lòng hỗ trợ này? Trong vô phước, có hữu phước (trong cái rủi, có cái may) và ngược lại. Điều này làm mình nhớ lại câu chuyện  "Tá ông mất ngựa".
            Rồi không ai đến tìm nó để quét dọn WC, có lẽ là nhờ sự can thiệp của viên sĩ quan thông dịch.             

            Hai tuần sau, Nguyên được dẫn về lại nhà tù Ban mê thuột với những tù nhân trước đây. Thấy nó, tay hạ sĩ quan vui mừng kêu lên :
             " - Chào mệ ! Tôi tưởng rằng mệ đã được phóng thích !          
              - Tôi đã bị đưa xuống địa ngục, bây giờ thì lên lại thiên đường với các anh em ! Nguyên trả lời một cách đơn giản. Rồi cuộc sống lao tù trở lại như những ngày tháng trước đây.

            Sau ba tuần chờ đợi, Nguyên được dẫn đến trước ông Célicourt, Trưởng ty An ninh, ông ta hỏi ngay :                
            " - Làm thế nào mà gia đình anh ở Huế có thể biết anh đang bị giam giử trong vùng này?            - Ở Pleiku, tôi đã nhờ một tù nhân gởi thư qua bưu điện cho chú họ tôi, Tỉnh trưởng Thừa Thiên ở Huế.
           -  Anh có may mắn là Trưởng ty An ninh ở Huế biết rõ cha anh. Nếu không, theo tôi anh sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. 
            Nguyên nín thinh, không nói gì cả.           
            -  Anh có thể là một tên ngây ngô, hay là kẻ muốn làm người hùng ! Ông ta tiếp tục.  
            Nguyên vẫn giử yên lặng. Nhưng trong thâm tâm nó tự nhủ : "Có lẽ là cả hai cùng một   lúc".                
             -  Theo sự can thiệp của những nhà cầm quyền cấp trên, tôi trả tự do cho anh để trở về với gia đình, ông Trưởng ty nói một cách trịnh trọng.                
            -  Tôi cám ơn ông về lòng tốt đã đối xử nhân đạo với tôi, Nguyên nói với đôi mắt ngấn lệ. 
            Luôn giử vẻ nghiêm trang, Ông ta ra dấu cho lính canh đưa tù binh được phóng thích ra khỏi văn phòng.

            Trở về trại giam, Nguyên không thể kìm nén nổi cảm xúc. Anh hạ sĩ quan trẻ chú ý tức thì : " - Trời ơi ! Tôi thấy mệ run kìa ! Có chi quan trọng không ?"           
           Quả thật, đôi chân của Nguyên va lập bập vào nhau, khó khăn đi thẳng bước. Sau bảy tháng tù tội, nó sẵn sàng giương đôi cánh, bay lên, bay đi, bay xa đến bất cứ nơi đâu …                !

            Ngày hôm sau, một lính gác dẫn Nguyên đến chiếc xe tải cửa mở sẵn, trên đó đã chễm chệ một chiếc xe limuzin mới toanh hiệu Mercury. Người rhadé bảo nó leo lên sau anh ta và mở cửa chiếc xe Mỹ. Nguyên vào xe giáp mặt ngay với một anh lính pháp. Người này nói là đã nhận lệnh áp tải nó về Ty An ninh Sài gòn, cùng lúc với chiếc xe ô tô.
            Nguyên ngồi ở ghế sau có tựa lưng thoải mái, còn thơm mùi da mới.

            Chiếc xe tải khởi động trực chỉ hướng Sàigòn. Người Pháp tử tế cho Nguyên một cái bánh mì có kẹp một miếng "giăm bông" dày ở giữa. Đến trưa, thì bánh mì với cá "xạc đin" hộp. Không có nước uống. Bạn đồng hành đưa cho nó nguyên một chai rượu vang "Bordeaux" và nói rằng đây là đồ uống có sẵn.               
            Xe thì tiện nghi nhưng chạy trên mặt đường lởm chởm, xấu như lưng lừa nên bị xóc nhiều. Nguyên không quen với vang đỏ nên mửa ngay trên ghế bọc da. Người bạn đồng hành không nói một lời, chỉ ném cho nó một cái khăn, Nguyên lau chùi chỗ dơ. Rồi  nằm dài xuống để ngủ trưa.

            Khoảng xế chiều, xe về đến Sài gòn trước cửa trụ sở Ty An ninh, đặt tại đường Catinat (Đồng Khởi ngày nay). Người lính xuống xe, trình một lá thư cho nhân viên đến gặp. Nó bàn giao Nguyên cho ông ta, rồi lên lại xe và vẫy tay chào mọi người. 
            Sau khi đọc xong công văn, nhân viên an ninh đưa kẻ mới đến xuống hầm nhà. Trong căn phòng không cửa sổ, không đồ đạc, trần nhà được thắp sáng mờ mờ bằng một bóng đèn màu vàng nhạt, Nguyên thấy ba tù nhân Việt trần trụi bị xích, những bàn tay mang còng vào ba trong sáu trụ thép được dựng lên khoảng cách đều nhau, ở giữa một vũng nước lỏng. Cảm thấy rùng mình lạnh sống lưng, Nguyên liền quay đầu về phía bức tường bên cạnh.           
           Không chú ý điều đó, nhân viên chỉ cho nó một góc phòng :             
           " -  Anh ngủ ở đây !".           
             Chọn một chỗ khô ráo, Nguyên đặt ba lô và cái áo mưa xuống nền xi măng.              
            " -  Anh được tự do đi lại, ông ta tiếp lời. Anh có thể đi dạo phố rồi quay về lại phòng này. Tôi sẽ chỉ thị cho người gác bảo vệ để anh được ra vào mà không trở ngại". Rồi ông ta đi lên trên để Nguyên lúng túng.      
            " -  Kỳ quặc quá ! Tại sao để mình tự do trong chốn kín bưng này ? Nơi đây chính hiệu là nhà tù áp dụng cách tra tấn nỗi tiếng dã man tàn bạo. Có phải là để bắt quả tang mình trong khi tình cờ tiếp xúc với một trong những kẻ khốn khổ dở sống dở chết này sao ? Để đe dọa mình sợ sao ? Để cho hiểu rằng mình sẽ cùng chung số phận như những kẻ bất hạnh này nếu còn vào lại lao tù sao ? Để trừng phạt mình sao ? Chính thế ! Để trừng phạt mình, bởi vì mình được phóng thích quá sớm. Thôi đừng bóp trán suy nghĩ nữa !".

             Không thể nghỉ ngơi mặc dầu thấm mệt, nó đi về phía cửa ra ngoài. Một làn không khí nóng hẩm hắt vào nó, kế đến tiếng động ồn ào của xe cộ và tiếng còi. Nó hỏi ngưòi gác bảo vệ hướng ra bờ sông Sài gòn. "Không xa đây lắm ! Hãy đi thẳng về phía trước mặt anh đó !".

            Nguyên thủng thẳng đi về phía một công viên, ở giữa có dựng lên một bức tượng giám mục Adran cầm tay hoàng tử Cảnh (Ảnh bên). Nơi này có lẽ gần sông vì nó nhận thấy làn gió mát vuốt ve mặt mày. Nguyên tìm một cái ghế dài đá trắng rồi ngã lưng nhìn bầu trời, không để ý tiếng ồn ào xung quanh. "Tự do ! Tự do ! Món quà quá quý báu Trời ban cho !", nó tự thốt lên với tất cả niềm vui mừng khi gặp lại trạng thái tự do. Nó nhắm mắt thiếp dần đi.

           "Anh Nguyên !" Một tiếng kêu nho nhỏ bên cạnh nó. Nhổm dậy tức thời nó nhận thấy em Hoài, cựu đội trưởng đoàn Đinh Bộ Lĩnh (1940-1941 Nguyên  làm Phó đoàn trưởng cho Thiếu đoàn của Hồ Khuê).
          -  Ngạc nhiên quá ! Nguyên kêu lên. Ngọn gió nào đưa em tới đây !  
          -  Tôi đang ở đây với cha tôi, từ Huế ông được thuyên chuyển vào Kho bạc Sài gòn, Hoài đáp. Còn anh, anh làm chi ở đây ?
            Nguyên kể ngắn gọn cho ông em các chuyện đã xảy ra theo các lời khai báo ở Pleiku, không một lời bình luận. Và chỉ thêm rằng chính một cựu tráng sinh hướng đạo đã cứu vản tình thế. Hiện giờ đang ở trại giam đường Catinat chờ ngày trở về với gia đình.
            Hoài chăm chú lắng nghe, rồi nhắc lại nhiều chi tiết về chuyến du lịch năm vừa qua, nhân dịp trại Họp bạn Hướng đạo ở Pháp. Tiếp theo, Nguyên hỏi thăm tin tức của thủ đô và những bạn hướng đạo ngày xưa. Rồi hai người chào tạm biệt và chia tay nhau lúc nữa đêm.

            Nguyên quay về đường Catinat. Người gác bảo vệ đã nhận chỉ thị nên mở cửa cho vào, không nói một tiếng. Nó bước xuống căn phòng thê lương, đèn sáng tù mù với hai thân thể trần truồng lún chặt nơi đó. Lần này nó mạnh dạn nhìn chúng.
             " -  Đây có lẽ là dàn cảnh, nó nghĩ. Và người thứ ba, dời đi hay đã chết rồi ? Hay đúng là một "con cừu" ? Quá xảo quyệt thật ? … Như cái bánh thuốc lào ở Ban mê thuột ? nó nhớ lại. Cái bẫy tâm lý khéo nhử mồi mà mày đã bị sập vào như một kẻ ngu xuẩn đó !".
             Mặc dầu mùi nước tiểu khai dai dẳng nó vẫn cuộn mình trong cái áo mưa màu be và đánh một giấc cho đến sáng. 

              Các tiếng rao của những gánh bán hàng rong và tiếng còi inh ỏi của các xe  động cơ đã đánh thức nó dậy. Một lần nữa, Nguyên thừa lúc tự do để đi dạo bờ sông Sài gòn, thăm vườn bách thảo và sở thú ở cùng một chổ. Lúc trở về, nó cảm thấy có ai đó chạm khẻ nơi tay :
                " - Hê ! Việt cọng, mày đi đâu ? Cảnh sát đây !". Một nhân viên cảnh sát không sắc phục đứng đối diện nó và chìa tấm thẻ ba sọc "xanh trắng đỏ " ra.  
             -  Tôi đi đến trại giam Catinat, bởi vì tôi được tự do đi lại, Nguyên đáp.      
             -  Mày nói đùa há ? Chuyện đó làm gì mà có ! nó cười và nói.         
             -  Nếu anh không tin tôi, chúng ta hãy cùng nhau đến đó ! Nguyên đáp “.     

             Thấy anh thanh niên có vẻ thiện cảm, nó cùng trò chuyện trên đường đi :        
             -  Thế nào mà anh biết được tôi đến từ bưng biền ?             
             -  Dễ đoán lắm mà ! Hãy nhìn mày mang cái gì nơi bàn chân đi !   
             -  Anh là một nhân viên nhạy bén lắm ! Nguyên nói sau khi đã liếc nhìn hai bàn chân. Quả thật, đôi "xăn đan" của nó thật là thảm hại. Da giày bạc trắng, quai đứt, rách bươm và nhớp, đế gót thì quá mòn.          

             Trong khi tay cảnh sát trẻ mĩm cười đắc ý, trong bụng Nguyên còn thấy bực tức với nhân viên giử kho ở Củng Sơn. Từ Hà nội, nó đã mang theo một đôi giày mới và tin cẩn giao cho anh ta. Khi Nguyên đi công tác, anh này nói là không tìm thấy đôi giày ấy. Có phải vì nguyên nhân đôi dép củ rích này mà ông Ty trưởng An ninh ở Ban mê thuột đã cáo buộc nó là Việt Minh ? Nhưng đó chỉ là một chi tiết. Có lẽ ông Célicourt đã có những nghi ngờ khác ! “         

              Đến trước cửa trại giam Catinat, tay cảnh sát trẻ bắt đầu trao lời với người gác bảo vệ, rồi có vẻ thất vọng, bèn quay qua Nguyên : "Tôi xin lỗi nghe !". Nguyên cười và đáp lại ngắn gọn : "Không có gì !", rồi đi thẳng xuống hầm.                 
 
             Căn phòng trống trơn, chỉ còn lại ở đó sáu trụ thép và những cái còng khóa. "- Chính hiệu là một cái bẫy, Nguyên tự nhủ. Chúng nó muốn mình còn lầm lẫn một lần cuối nữa sao ? Để trì hoãn, nếu có thể, sự trở về của mình chăng ? Thật là quá miệt mài ! Mình phải cảnh giác mỗi thời khắc".               

             Buổi tối, lính canh mang đến cho Nguyên bửa ăn, thực đơn như ở trong nhà tù : một "cà mèn" cơm và vài miếng cá khô. Còn nước uống anh ta chỉ cái vòi nước bên cạnh. Sau  khi ăn, hay đúng hơn là nhai thủng thẳng bửa ăn nghèo nàn, nó đến lại công viên hôm qua và chờ đợi Hoài nhưng vô vọng. Thế mà cựu đội trưởng đã hứa là sẻ thăm nó trước khi ra đi.    

               Hừng sáng, đang ngon giấc ngủ một tên lính gác đến lay nó dậy. Anh ta bảo nó mang hành trang đi theo, rồi đưa nó đến nơi có vòi nước : “ Rửa ráy đi ! “. Nguyên rửa mặt, làm vệ sinh một cách nhanh chóng rồi theo nó đến văn phòng Giám đốc trại giam, người mà nó đã gặp ngày đầu mới đến, lúc đó không biết chức vụ ông ta. Một viên thanh tra công an đang chờ nó. 

         Rời trại giam, hai người leo lên xe Jeep chạy về hướng bờ Sông Sài gòn. Ở cảng, Nguyên nhận thấy một chiếc tàu chiến nhỏ mang danh hiệu : "Dumont d’Urville".     
         Xuống xe Jeep, chúng đi qua cái cầu nhỏ để lên tàu. Nguyên được đưa lập tức xuống hầm tàu. Người đồng hành chỉ cho nó một nơi nhỏ có kê cái giường sắt và một góc hẹp để làm vệ sinh :      
        " -  Anh ở lại đây ! ông ta nói.
        -  Bao nhiêu ngày ? Nguyên hỏi.         - Khoảng hai ngày, thời gian của hành trình từ Sài gòn đến Đà nẵng", viên thanh tra đáp. Rồi ông ta đi lên tầng trên.    

            " -  Tự do đấy ! Nguyên tự nhủ. Mình bị đối xử như là một tù nhân từ khi được trả tự do ở nhà tù Ban mê thuột. Còn bị nhốt trong hầm tàu, trong khi người đồng hành thư giãn thoải mái ở lầu trên hít thở không khí biển cả". Rồi suy nghĩ thêm :              
            " -  Ồ hay, đây là tự do giả vờ sao ? Hay là chúng thực sự gởi mày ra Poulo-Condore ? (đảo nhà tù dành cho các tù nhân chính trị) ? Nhưng không, đừng vớ vẫn, mày chỉ là kẻ tầm thường, một con cá nhỏ, đừng cho mày là quan trọng ! Vả lại, tại sao chúng phải cần đến một thanh tra của Trung phần để áp giải đến đó, thay vì một đồng nghiệp của chúng ở Sài gòn ? Thôi đừng quá băn khoăn chi nữa !".            

            Một thủy thủ đem đến cho nó một bửa ăn nhà tù : "cà mèn" cơm với cá khô. Đây là bửa ăn đầu tiên và cuối cùng của nó ở trên tàu. Khi con tàu rời khỏi con kênh dài 70 cây số để ra đại dương, Nguyên bắt đầu cảm thấy say sóng. Nó mệt đến độ dạ dày của nó từ chối mọi thức ăn và nôn hết ra ngoài tức thì. Mặt khác nó phải chịu đựng hít thở không khí dưới hầm tàu, một hỗn hợp mùi nước tiểu, thức ăn mửa ra và nhất là dầu mazout. Nó chìm sâu vào giấc ngủ nhiều giờ liền, ở trạng thái vô ý thức như trong cơn hôn mê say rượu.      

             Viên thanh tra đến dìu nó ra khỏi hầm khi tàu cập bến Đà nẳng. Nguyên không thể đứng vững được nữa. Mặt đất hình như quay cuồng và hẫng hụt dưới chân nó. Mất thăng bằng, nó bám vào viên thanh tra kéo lê nó, rồi một lúc sau giử chặt nó. Tuy nhiên, nó bước đi xiêu vẹo, vừa nhìn mọi người, nhà cửa, cây cối nghiêng phải ngã trái, như con tàu gặp cơn bão tố.

             May mà ở bến tàu người dẫn đường đã gọi một chiếc xe kéo và đưa nó đến nhà một đồng nghiệp cư ngụ trong thành phố. Vì đã được báo trước, nên anh này tin cậy đón tiếp nồng hậu người mới đến. Nguyên được đối xử rất tốt, được hưởng một bữa ăn gia đình và một cái giường tiện nghi. Viên thanh tra kể rằng ông ta đã biết cha Nguyên khi ông ta cùng làm việc trong Sở An ninh ở Huế.

             Đây là lần đầu tiên mà Nguyên hưởng được quy chế tự do sau bảy tháng tù tội, nhưng nó đang còn yếu về việc giử thăng bằng. Thử bước đi, nó còn lảo đảo như con tàu say sóng. Chủ nhà ngỏ ý đưa nó tham quan Đà nẳng, Nguyên cáo mệt xin khước từ lời mời. Nó thoải mái nghỉ ngơi trên chiếc trường kỷ, vừa đọc các loại nhật báo, kể cả những số báo củ. Miền Trung vẩn còn Thủ hiến Trần văn Lý, Hoàng đế Bảo Đại còn ở Hồng Kông. Quân đội Pháp chiếm giữ những thành phố, quân du kích hoạt động trong các làng xã ở đồng quê. Đường "quốc lộ" bị gián đoạn, không lưu thông được vì nguy hiểm.

            Hai ngày sau, thời gian chờ máy bay ra Huế, chủ nhà đưa nó ra phi trường Đà nẳng để giao lại cho viên thanh tra khác từ Huế vào. Cha Nguyên chờ nó ở Phú Bài, sân bay cách trung tâm thành phố 9 cây số. Sau niềm hân hoan vui mừng, cha và con phải đến trình diện ở Ty An ninh trước khi có thể về nơi cư ngụ. Ông cụ thân sinh bảo rằng đó là thủ tục hành chánh bắt buộc, nhưng cũng là dịp để cám ơn ông Ty trưởng Georgin.
            " -  Đừng cám ơn tôi, ông ta mỉm cười nói. Hãy cám ơn cha anh. Tôi trả tự do cho anh bởi vì tôi quý trọng cha anh. Anh có may mắn là con của ông ấy". 

               (Cha Nguyên đã rời Ty này từ cuộc bạo động của người Nhật tháng 3/1945, rồi ông làm việc 4 tháng trong chính phủ Trần Trọng Kim như là bí thư đặc biệt của Thủ tướng. Khi hai người cùng gặp lại nhau, ông đang giử chức vụ Ty trưởng Sở "Kho bạc" trong chính phủ Trần văn Lý).        
             Trở về cư xá, Nguyên kể cho cha nghe những diễn biến của cuộc phiêu lưu. Giai đoạn lưu trú trong hầm tàu Dumont d’Urville đã làm ông quá đỗi ngạc nhiên : 
           " -  Thế mà Ba đã gởi  "hỏa tốc" một số tiền để thanh toán toàn bộ chi phí cho con trở về bằng đường hàng không đấy !.  
              -  Con xin cám ơn Ba đã cứu con thoát khỏi nanh vuốt của địch, Nguyên nói.  
              -  Thật ra, chính là nhờ sự can thiệp của Thủ hiến Trần văn Lý đã làm Georgin nhượng bộ. Ông này trong thâm tâm chống đối Ba, biết Ba đã làm việc với Trần trọng Kim, thủ tướng của chính phủ thân Nhật. Còn Célicourt là cựu thanh tra, dân đảo Martinique, lấy vợ người Bắc kỳ và ông ta quen biết Ba khi còn làm việc ở Huế. Thế mà cùng với Georgin, chúng nó đã giử kín việc bắt giam con. Ba chỉ có tin tức của con sáu tháng sau, là nhờ viên Trung úy thông dịch.
              -  Cả hai đều phục vụ cho nước Pháp mà ! Nguyên thưa lại. Vả lại, chắc chắn chúng đã biết rõ về việc gia nhập vào Quân đội Giải phóng của ba anh em con, mà một đứa em đã hy sinh trong trận chiến đấu với một đơn vị quân đội pháp gần Nha Trang. Với họ, chúng con là quân phản nghịch, những phần tử nguy hiểm cần phải loại bỏ không thương tiếc.
           - Như thế là Ba hiểu được sự kiên trì của chúng đối với vị thế của con, người cha nói.            - Bị bắt buộc phải thả con ra, là ngược lại ý muốn của chúng. Bằng mọi giá phải trả, chúng nó muốn có những chứng cớ xác thực, Nguyên thưa lại. Chúng nó tìm cách tóm cổ con bằng vô số bẫy chăng ra. 
           - May mà con không khờ dại, người cha nói.    
           - Dạ không, đôi khi con cũng khờ, Nguyên thưa. Chúng ta hãy tưởng tượng thái độ của Ty trưỏng Célicourt khi đọc bài báo cáo của "con cừu" phù thủy trong vai du kích quân. Thay vì nói chính trị với tên này và tìm cách vượt ngục, con đã xin anh ta học phương pháp để tàng hình. Con đã ngây thơ nuốt lá bùa ma thuật và trải qua hàng giờ ngồi thiền.
            -  Có thật không ? người cha hỏi lại vừa cười.            
            -  Dù sao vào ngày phóng thích, ông này vẫn còn hoài nghi. Ông ta nói : "Anh đúng là một  tên khờ khạo hay là một kẻ muốn làm người hùng", Nguyên tiếp tục. Con chắc chắn đích thị là ông ta và cấp trên ông ta đã bố trí cho con lưu lại trại giam Catinat và sắp xếp con trở về nhà trong hầm tàu thủy Dumont d’Urville, không nói đến những việc dàn cảnh khác.
            -  Chúng nó tin là bắt được một chiến binh của đảng và tìm mọi cách tóm cổ con với tội phạm quả tang đễ khuất phục được con, người cha nói.            
             -  Ồ không ! Con nghĩ rằng trước hết chúng nó muốn "trừng phạt" con, Nguyên nói. Nếu Ba mà nghe được những tiếng kêu đau đớn của con ở Pleiku dưới những đòn roi mây của tên lính rhadé. Một chiến binh thật sự thì sẽ xử sự cách khác. Con đã từ chối quà tặng của chị họ Ba, Nguyển Khoa Diệu Hồng, muốn đưa con gia nhập vào Đảng.
             -  Dù sao đi nữa, qua các chuyện này, con đã có thể tự xoay xở như là một thủ lĩnh ! người cha nói với phần nào hãnh diện.                
             -  Đúng thế, thưa Ba, nhưng chỉ là như một thủ lĩnh Hướng đạo mà thôi, Nguyên kết thúc bằng nụ cười “. 

            -  Năm 1996, Nguyên đã gặp được Hồ Khuê ở thành phố HCM. Trong cuộc chuyện trò thân hữu, có hỏi anh ta tin tức của Hoài, cựu đội trưởng. Hết sức bối rối, Khuê nói rằng anh này đã phản bội phong trào Hướng đạo và không muốn nói gì thêm nữa. Nguyên ngầm hiểu ra rằng việc gặp gở với Hoài dưới tượng đài vị giám mục Pigneau de Béhaine không phải là tình cờ, mà nó đã bị theo dõi từ khi ra đi dạo ở trại giam Catinat. May mắn thay, Nguyên chỉ kể cho anh ta phiên bản gốc của việc phiêu lưu mà không thêm thắt gì. Tuy thế, vẫn không tránh khỏi "hình phạt" du lịch trong hầm tàu tiếp tế quân sự Dumont d’Urville, có lẽ đã có quyết định từ trước.

           Nguyên chỉ được những tin tức của viên Trung úy thông dịch Hoàng ở Pleiku sau khi anh mất năm 1993 ở Mỹ, nhờ đọc được tiểu sử của anh qua mạng máy tính.
            Sinh ở Huế năm 1920, Thái quang Hoàng đã gia nhập Quân đội Giải phóng VN năm 1943. Năm 1944, anh tốt nghiệp ra trường sĩ quan pháp Thaket với cấp bậc thiếu úy và năm 1947 phục vụ như là trung úy thông dịch ở Pleiku.
            Năm1954, anh chuyển qua ban hậu cần của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đang chiến đấu chống lại lực lượng tái chiếm của Pháp. Được thăng cấp Trung Tướng năm 1956, ở Sài gòn anh điều hành bộ tham mưu quân đội Việt Nam Cọng Hòa, rồi năm 1960, trường Sĩ Quan cấp cao. Sau cuộc ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963, anh được điều động qua Thái lan làm Đại sứ, tháng giêng năm 1964.
            Kể từ tháng 4/1975 anh sống lưu vong ở bang Virginia (Mỹ quốc) và ở đó, anh từ trần tại nhà riêng ở Arlington năm 1993.  

              Bài "Kỷ niệm Hướng đạo" này dịch từ Pháp ngữ, nhờ một phần lớn công lao của cháu tôi, Nguyễn Vỉnh Phúc ở Hội An (Đà Nẳng - Việt Nam).