Môt bài hoc lich su

            Đọc lại "Một trang thãm sử" về Việt Nam, tôi tự hỏi : "Nguyên nhân vì đâu ?".
            Nếu không có chiến tranh xâm lược của ngoại bang thì chẳng có chuyện đảo chánh và củng không có hành động tàn ác của bọn côn đồ đáng nguyền rủa, như Lyndon Johnson đã nói.

            Thực ra ông nầy chỉ biết chỉ trích một nhóm tướng lĩnh mà chính quyền ông đã lợi dụng để tạo ra một chính phủ tuân theo chiến lược của các nhà chính trị và ngoại giao của Hoa Kỳ. Bọn  "côn đồ"  ông nói đến, chỉ giết hại hai nhân vật (Diệm và Nhu) mà bọn kia đã ra lệnh.

            Và ông Johnson đã quên, hay không nhìn thấy "bọn côn đồ chính khách kia"  (trong giới chính quyền Mỹ) hung ác và hiễm độc hơn nửa, đã đem tai hại cho Việt Nam trong một cuộc chiến tranh tàn sát hàng triệu người, với các phương tiện vũ khí khốc liệt hơn cả cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

            Đọc kỷ bài dịch sau đây, các bạn sẻ rỏ :

            Chương XXVIII : "Vietnam : Một chiến lược không thành tựu", trích trong cuốn "Lịch sử dân tộc Hoa Kỳ từ 1492 đến ngày nay" của Howard ZINN, cựu Giáo sư Sử học và Chính trị học tại Đại Học đường Boston. Tác phẫm của ông chuyên về ảnh hưởng của dân chúng trong xã hội Mỹ quốc.

            Tác giã đã tường thuật rành mạch, một cách khách quan, những hành vi của các nhà cầm quyền, chính trị, ngoại giao, cùng chiến lược, lập trường, và tham vọng của họ. Những nhân vật nầy đã xuyên tạc sự thật đễ đánh lừa dân chúng, nhưng cuối cùng dư luận và chính nghĩa đã thắng thế.
            Một bài học của lịch sử và chính trị học. Tham-Sân-Si chỉ đưa cá nhân vào "bể khổ"  khó thoát, và đưa một cường quốc vào "bến mê" không có lối nào ra mà không thất bại chua cay ! Nhưng nếu còn Tham-Sân-Si, quá trình sẻ tái diễn nhiều lần !

             Từ năm 1964 đến năm 1972, một cường quốc giàu có nhất thế giới đã huy động một lực lượng binh bị khổng lồ, xử dụng tất cả các vũ khí tối tân, trừ bom nguyên tử, mà không khuất phục được phong trào giãi phóng của một quốc gia nông nghiệp.

            Chiến tranh Mỹ-Việt là một cuộc tranh chấp giửa hai phần tử : một phần trông cậy vào cơ giới tinh vi và một phần tin tưởng ở nhân tâm quyết thắng. Tất nhiên, phái đầu bị thất trận trước phái thứ hai.

            Nhân dịp chiến tranh, một phong trào hòa bình chưa bao giờ thấy, xuất hiện ở Mỹ và đả đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đình chiến.

            Vào mùa thu năm 1945, quân đội Nhật Bổn bị bại, đành phãi rút ra khỏi Đông Dương, thuộc đia củ của Pháp. Trong lúc đó, một phong trào cứu quốc, do nhà cách mệnh Hồ Chí Minh lãnh đạo, nhất định muốn lật đổ chế độ cai trị xưa, với sự thành lập một Quân đội giãi phóng đã từng chống Nhật.

            Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập nước Việt Nam Xã Hội chủ nghĩa ở Hà Nội, có một triệu người chứng kiến. Bản tuyên ngôn độc lập, phỏng theo tư tưỡng "Tuyên bố Luật dân quyền" của Cách mệnh Pháp và theo "Hiến pháp Mỹ". Bắt đằu là câu : "Tất cả mọi người đều bình đẳng. Trời sinh ra, đã cho người những quyền lợi bất khã xâm phạm : đời sống Độc lập, tận hưỡng Tự do và mưu cầu Hạnh phúc." Và theo gương Mỹ năm 1776 đã thiết lập một danh sách kể ra những hiềm khích đối với Hoàng tộc Anh quốc,  dân Việt Nam chỉ trích chế độ thuộc địa Pháp quốc như sau :

            "Nền thống trị Pháp đã áp dụng những luật lệ vô nhân đạo. [ ... ] Chúng thành lập nhiều nhà tù hơn học đường. Chúng thẳng tay giết hại các nhà yêu nước và dẫm trong máu mọi phong trào khởi nghĩa, Cùng bưng bít dư luận quốc gia. [ ... ] Chúng chiếm đoạt ruộng đất, mõ than, núi rừng và các sản phẫm cần thiết. [ ... ] Chúng đặc ra những thuế má bất công và đưa dân Việt, nhất là nông dân vào hoàn cảnh vô cùng khổ cực. [ ... ] Từ cuối năm qua đến đầu năm nay (1944-1945) hai triệu người bị chết đói. [ ... ] Toàn thể nhân dân, cùng chung một mục đích, quyết tâm chiến đấu đến cùng mọi ý định của Pháp quốc muốn trở lại Việt Nam."

            Bản báo cáo về chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ là một hồ sơ mật, nhưng bị tiết lộ ra ngoài do Daniel Ellsberg và Anthony Rousseau trong "Giấy tờ Lầu năm góc" (Pentagon Papers), trình bày về hoạt động của HCM như sau : "Ông nầy đã thiết lập Việt Minh thành một lực lượng chiến đấu có thể đương đầu vói Nhật như với Pháp. Trên chiến địa, ông ta là người lãnh tụ độc nhất ở VN, được sự ủng hộ và chiếm được nhân tâm của dân chúng, vào tháng 8 - tháng 9 năm 1945, sau khi đuổi lui quân Nhật, thành lập nước Việt Nam dân chủ và đang huy động đón chờ quân đội Đồng Minh.

            Từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 (đến 19 tháng 12 năm 1945), trong vài tháng, Việt Nam đã dược thành lập lần đầu tiên trong lịch sử cận đại, thoát ách đô hộ của ngoại bang, thống nhất từ Bắc chí Nam dưới uy quyền của Hồ Chí Minh." 

            Nhưng các nước Đồng Minh đã mưu tính ngăn cản nền độc lập của Việt Nam. Anh quốc đang chiếm đóng miền Nam Đông dương giao lại cho quân đội Pháp. Mỹ quốc xui dục Trung Quốc Tưởng Giới Thạch xuống chiếm miền Bắc Việt thay thế quân đội Nhật. Hồ Chí Minh lúc ấy nói với nột nhà báo Mỹ : "Chúng tôi bây giờ dường như bị cô lập. [ ... ] chỉ biết trông mong vào sức lực của mình mà thôi !".

            Từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 2 năm 1945, HCM đã gởi 8 văn thư cho Truman, tổng thống Mỹ, nhắc lại lời hứa tự quyết của các dân tộc theo Hiến chương Đại Tây Dương. Một văn kiện khác được chuyển qua Liên Hiệp Quốc : "Tôi trân trọng xin Tổ chức quốc tế, vì lý do nhân đạo, đễ ý đến tình trạng sau đây : Hai triệu dân VN bị đói chết trong mùa đông 1944 qua mùa xuân 1945, theo chiến lược của Pháp chiếm đoạt và tàn trử lúa gạo VN cho đến khi mốc thối. [ ... ] Ba phần tư ruộng đất của chúng tôi bị ngập lụt trong mùa hạ 1945, trước khi bị khô cạn. Năm phần sáu lúa gặt trông đợi bị mất sạch. [ ... ] Những người còn sống sót đang chịu đói rét, [ ... ] Nếu các cường quốc và các tổ chức từ thiện không giúp đở, chúng tôi sẻ đi vào một biến cố nguy cập". L.H.Q. im lặng, và Truman không thèm trả lời.

            Vào tháng 11 năm 1946, Pháp quốc dội bom xuống Hãi Phòng, một hãi cảng Bắc VIệt. Bắt đầu một cuộc chiến đấu dài 8 năm giửa quân đội Việt Minh và quân đội Pháp, đễ dành quyền chiếm hữu nước VN.

            Một năm sau thắng lợi Trung Cọng 1949 vả chiến tranh Triều Tiên, Mỹ quốc bắt đầu viện trợ mãnh liệt Pháp quốc về mặt quân sự. Cho đến năm 1954, Mỹ cung cấp vũ khí súng trường, súng liên thanh, … cho quân đội Pháp ở Đông Dương, và chi phí một tỷ đô la. Tổng cọng Mỹ đã đóng góp 80 % cho lực lượng chiến tranh Pháp.

            GIÃI THUYẾT "DOMINO"

            Lý do vì sao ? Giới chính trị Mỹ giãi thích cho dư luận trong nước rằng phãi giúp đở đễ ngăn cản sự bành trướng của phong trào cọng sãn ở Á châu. Trong các ghi chú bí mật của Hội đồng An ninh (cố vấn ngoại giao của Thủ tướng), vào năm 1950, có dấu tích các hội đàm về một vấn đề mà sau nầy đặt tên là  "Giãi thuyết domino ". Như một hàng quân cờ domino, nếu một quốc gia rơi vào tay cọng sãn, nước lân cận đổ theo và sẻ lôi cuống các nước khác … Phãi nhất quyết ngăn trở sự đổ vở nước đầu tiên bất kỳ với một giá nào.

            Vào tháng 6 năm 1952, ghi chú trên còn nhắc nhở đến hệ thống các căn cứ quân sự Mỹ dọc theo hãi phận Trung cọng, Phi luật tân, Đài loan, Nhật bổn và Nam Triều tiên. Sự kiểm soát cọng sãn ở đấy sẻ làm yếu thế vị trí Mỹ trên các đảo Thái bình dương và lâm nguy quyền lợi Mỹ về vấn đề an ninh ở Cận Đông. [ ... ].  Trong miền Đông nam Á, nhất là ở Malaysia và Indonésia, sãn xuất cao su và kẽm cho thị trường chúng ta, đầy dẩy dầu lửa và các nguyên liệu cần thiết, rất quang trọng cho chiến lược quân sự.

            Ghi chú còn kể thêm rằng số phận của Nhật Bổn lệ thuộc vào lúa gạo ở vùng nầy. Nếu cọng sãn xâm chiếm Đông Nam Á, tất nhiên khó ngăn cản nước Nhật thõa hợp với chúng nó. Cùng trong năm ấy, một báo cáo khác của Bộ Quốc phòng xác nhận quân đội Pháp đang mất Đông dương vì thiếu sự ủng hộ của toàn dân. Và sợ rằng một thõa hiệp chỉ đem thắng lợi cho phe Cộng sãn và làm mất mát không chỉ Đông dương mà tất cả miền Đông Nam Á. Rồi kết luận : "Nếu quân đội Pháp quyết định rút lui, thì Mỹ quốc bắt buộc phãi tìm một giãi pháp can thiệp tác chiến trong vùng ấy."

            Kết quả, năm 1954, Pháp quốc trước một dân tộc Việt Nam nhiệt liệt chiến đấu trong phong trào giãi phóng Hồ Chí Minh, đành phãi rút lui (sau trận Điện Biên Phủ).

            Ở Genève, Hội nghị quốc tế chủ tọa Hiệp ước đình chiến giửa Pháp quốc và Việt Minh. Quân đội Pháp tạm rút lui vào miền Nam Việt. Việt Minh đóng đô ở miền Bắc Việt (đến vĩ tuyến 17. Bến Hãi – Quãng Trị). Hai năm sau, sẻ tổ chức cuộc bầu cử trong một quốc gia thống nhất và dân Việt Nam sẻ chỉ định lấy Chính phủ của họ.

            MỸ QUỐC THÀNH LẬP NƯỚC VIỆT MIỀN NAM

            Mỹ quốc tức tốc chống lại dự định thống nhất ấy đễ đưa miền Nam vào vùng ảnh hưởng của mình. Mỹ đặt lên ghế Thủ tướng chính phủ Nam Việt ở Saigon Ngô Đình Diệm một quan lại xưa, trước ở New Yersey. Mỹ xui dục ông nấy từ chối việc bầu cử đễ thống nhất đất nước Việt Nam. Nhờ viện trợ tài chánh và quân sự, chính phũ được đứng vửng một thời gian. Theo các "Giấy tờ Lầu năm góc" (Pentagon Papers), chính phủ miền Nam là "con đẻ"  của Mỹ quốc.

            Chinh phủ Diệm mổi ngày càng mất tín nhiệm của nhân dân. Thủ tướng là một người Công giáo trong một nước phần đông Phật giáo, và ông thân cận với một số điền chủ trong một nước nông nghiệp. Các nỗ lực cải cách ruộng đất không có thay đổi thực sự.

             Diệm thay thế các Tỉnh trưởng với nhửng người ở trong phe phái của mình. Năm 1962, 88% các Tỉnh trưởng đều là sĩ quan cao cấp. Diệm bắt giam một số đông đối phương đã cáo buộc chinh phủ về tham nhũng và trì trệ trong mọi cãi cách.

            Phe đối lập gia tăng nhanh chóng trong các vùng nông thôn bộ máy hành chính của Dim không thể kiểm soát. Năm 1958, quân du kích bắt đầu quấy rối các cơ quan hiện hữu.  Chính phù Bắc Việt hổ trợ và khuyến khích bằng cách gởi vào một số đông di dân miền Nam đã ra Bắc sau Hiệp ước Genève.

            Mặt trận Giãi phóng miền Nam được thành lập năm 1960, bao gồm các phe đối lập chính phủ Diệm, dựa vào lực lượng của nông dân miền Nam muốn cãi tạo một đời sống mới. Trong cuốn "Việt Cọng"  tường thuật các cuộc phỏng vấn với đối phương và các tài liệu tịch thu, Douglas Pike (cố vấn chính phủ) tìm cách mô tã một hình ảnh thực tế cho Chính phủ Mỹ : "Trong 2'561 xã ở Nam Việt,  MTGP (Mặt Trận Giãi Phóng miền Nam) đã sáng tạo nhiều cơ sở xã hội-chính trị có tầm quốc gia trong một khu vực chưa từng có phong trào nhân dân [ ... ] Trước khi có MTGP, trong làng chưa có phe phái chính trị. [ ... ] Chế độ cọng sãn đã đem lại nhiều cãi cách xứng đáng về mặt xã hội chỉ bằng phương tiện tuyên truyền. Thực ra, chúng là một người cán bộ hơn là một quân nhân. Đều làm tôi ngạc nhiên là chúng đặt cãi cách xã hội lên trên chiến tranh, Pike nói thêm. Và rất khiếp phục về sự tham dự  đông đúc của dân chúng. "Một nông dân không chỉ là một con tốt trên bàn cờ mà là một yếu tố năng động hoạt động của lực lượng ". Chính nó là "động lực" [ ... ]. Mục tiêu sự nổ lực tổ chức trên một quy mô lớn là tái tạo một trật tự xã hội trong xã đễ các công dân có thể tự điều khiển lấy. Đó là nguyện vọng chính thức của MTGP từ khởi đầu, chứ không chỉ đễ chiến đấu với quân lực Saigon, chiếm đoạt lảnh thổ đễ chuẩn bị một trận đánh lớn. Một tổ chức về bề sâu đễ huấn luyện nông dân đi đến trình độ tự trị.

            Pike ước tính có khoảng 300'000 thành viên của MTGP vào đầu năm 1962. Và  "Giấy tờ Lầu năm góc" (Pantagon Papers) xác định rằng lúc ấy, "một mình Việt cộng có một ảnh hưởng thực sự trong khu vực nông thôn".

            Khi nhậm chức năm 1961, Kennedy theo dõi chính sách của Truman và Eisenhover về Đông nam Á. Tức thì, Thủ tướng chấp nhận một chương trình bí mật chuẩn bị tham gia chiến sự Việt Nam và Ai Lao, trong đó, theo các "Giấy tờ Lầu năm góc" có kế hoạch đưa nhân viên tình báo vào Bắc Việt đễ tổ chức các công tác phá hoại và nhắm mục tiêu hoạt động. Năm 1956, Kennedy đã có tổ chức kỷ niệm "thành công lớn của tổng thống Diệm" và tuyên bố, về Việt Nam của Diệm, rằng "chủ nghĩa tự do chính trị của ông là một nguồn cảm hứng."

            Một ngày tháng 5 năm 1963, một tu sĩ Phật giáo (Thích Quãng Dức) tự thiêu ở giửa thành phố Saigon. Một vài tu sĩ khác củng theo gương đễ tỏ cho thế giới biết sự chống đối với chế độ Ngô Đình Diệm. Công an xâm nhập vào các đền chùa, gây thương tích 30 tu sĩ và bắt giử 400 phật từ. Diệm ra lệnh đóng cửa các đền chùa. Saigon trở nên sân khấu của nhiều nhóm phản kháng. Công an nổ đạn vào các người biểu tình làm chết 4 ngươi. Đễ phản đối,  10'000 người biểu tình ở Huế, cố đô Việt Nam.

            Hiệp ước Genève chỉ chấp thuận cho Mỹ gởi sang Nam Việt 685 cố vấn quân sự. Eisenhower gởi thêm vài ngàn. Dưới Kennedy, tỷ số lên đến 16'000, và phần đông bắt đầu tham gia các chiến sự. Tuy thế, chính phủ Diệm củng đi vào thất bại. Phần đông các vùng nông thôn ở Nam Việt đều thuộc quyền tự trị của nông dân dưới sự nâng đở của MTGP.

            C.I.A. BỎ RƠI DIỆM VÀO TAY CÁC PHÃN TƯỚNG

            Diệm thành ra một trở ngại cho ý định xâm lăng Việt Nam của Mỹ quốc. Một số tướng lĩnh âm mưu lật đổ chế độ Diệm vừa giử liên lạc với phụ trách CIA, Lucien Conein, ở Việt Nam. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge tán thánh ngay và ngày 25.10.1963 thông báo cho cố vấn McGeorge Bundy của Kennedy rằng đã chấp thuận các cuộc gặp mặt gửa tướng Trần Văn Đôn và Lucien Conein. Kennedy lúc đấu ngần ngại nhưng chẳng muốn tìm cách báo trước cho Diệm biết, trái lại. Ngay trước lúc đảo chánh và sau khi tiếp giao với các phãn tướng, qua Conein, Lodge và Diệm cùng đi nghỉ mát tại Vũng Tàu.

            Khi Dinh Độc Lập bị tấn công ngày 1.11.1963, Diệm gọi giây nói cho Đại sứ Mỹ, và sau đây là cuộc đàm thoại giửa hai người :

            DIỆM : Một trung đoàn nổi loạn, tôi muốn biết thái độ của Mỹ ra sao ?
            LODGE : Tôi chưa đủ thông báo đễ trả lời. Tôi có nghe tiếng súng nổ, nhưng chưa biết tường trình về việc đã xẩy ra, Ngoài ra, hiện giờ là 4 giờ sáng ở Washington, chính phủ Mỹ chắc là chưa có quết định gì trong lúc nầy.
            DIỆM : Nhưng về phần ông chắc có ý kiến nhỏ !
            LODGE nói với Diệm nên gọi giây nói cho ông ta khi muốn có bảo đãm về an ninh cá nhân.
            Đấy là lời trao đổi cuối cùng của một người Mỹ và một người Việt. Diệm trốn ra khỏi Dinh Độc lập nhưng bị bắt ngay với ông em (Nhu), đưa sang một chiếc xe trọng tải, và sau cùng bị xử tử cả hai.

            Đầu năm 1963, ông Thứ trưởng chính phủ Kennedy, U. Alexis Johnson, đã tuyên ngôn trước Câu lạc bộ kinh tế Detroit : "Cái gì ở miến Đông nam Á đã thu hút các cường quốc lân cận từ mấy thế kỷ vừa qua ? Tại sao vùng ấy quyến rủ và quan trọng như thế ? Trước hết vì khí hậu thuận lợi, đất đai phì nhiêu, có nhiều nguyên liệu thiên nhiên, dân số thưa thớt trong nhiều khu vực và do đó cơ hội phát triển lớn. Các nước ở Đông nam Á còn sản xuất các thặng dư xuất khẩu gạo, cao su, sãn xuất nhiếu thặng dư gạo, cao su, gổ tếch, lúa mì, kẽm, đồ gia vị, dầu lửa, và nhiều thứ khác nửa."

            Tất nhiên, không phãi những lợi tức ấy mà Kennedy đã động đến trong các bài diễn văn cho dân chúng Mỹ. Thủ tướng chỉ nêu ra các vấn đề cọng sãn và tự do. Trong cuộc hội đàm với báo chí ngày 14.02.1963, Kennedy nói : "Như các ông đã rỏ, Mỹ quốc từ hơn 10 năm nay, đã trợ giúp chính phủ và dân tộc Việt Nam đễ đãm bão quyền tự do cho họ".

            Ba tuần sau khi Diệm bị tử hình, Kennedy bị ám sát, và phó thủ tướng Lyndon Johnson lên thay thế.

            Những tướng lĩnh sau Diệm không thể nào thắng nổi MTGP miền Nam. Các nhà chức trách Mỹ không ngừng ngạc nhiên về dân tâm hưỡng ứng MTGP và sự kiên trì của quân đội họ. Các nhà sử học "Lầu năm góc" thuật lại khi Eisenhower gặp Kennedy, tổng thống mới bầu vào tháng giêng I961, ông củng ngạc nhiên : "Trong biện pháp can thiệp loại này, hình như  tinh thần của các lực lượng cộng sản còn tốt hơn so với các lực lượng dân chủ." Về phần tướng Maxwell Taylor cho biết vào cuối năm 1964 : "Khả năng Việt cộng liên tục tái lập các đơn vị và tận dụng lợi thế của thiệt hại của nó là một trong những bí ẩn của cuộc chiến đấu du kích. [ ... ] Không những quân Việt cọng tái sinh từ đống tro tàn của họ như chim phượng hoàng, nhưng họ có một khả năng tuyệt diệu để giữ một tinh thần cao. Hiếm là những dịp mà chúng tôi đã thấy một sự suy giảm của tinh thần trong số Việt cộng bị bắt, hoặc đọc trong các tài liệu của họ bị tịch thu."

            MỸ QUỐC "BAY" SANG CỨU TRỢ DÂN TỘC VIỆT NAM !

            Vào đầu tháng 8 năm 1964, lấy lý do ba tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt Nam tấn công tàu khu trục USS Maddox của Hoa Kỳ trên Vịnh Bắc Bộ, Tổng thống Lyndon Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đã lập ra hồ sơ Sự kiện Vịnh Bắc Bộ (The Gulf of Tonkin), để thuyết phục Quốc hội Mỹ cho phép bắt đầu mở cuộc chiến tranh leo thang với Việt Nam. McNamara tuyên bố rằng "Trong một tuần tra thường xuyên tại vùng biển quốc tế, tàu khu trục Mỹ Maddox đã bị tấn công một cách không chính đáng." Nhưng  mãi về sau mới biết rỏ rằng Hải quân Nhân dân Việt Nam không hề tấn công tàu chiến Hoa Kỳ trong đêm 4 tháng 8 năm 1964. Sự kiện vịnh Bắc Bộ chỉ là một mưu kế của các nhà chức trách Mỹ bịa đặt đễ đánh lừa dân chúng, củng như mấy năm trước đây Kennedy với "Vịnh Con lợn" (Baie des Cochons).

             Trong thực tế, CIA thực sự đã tham gia vào một hoạt động bí mật mà mục tiêu là các thiết bị ở bờ biển Bắc Việt. Vì vậy, nếu thực sự là một cuộc tấn công, nó chắc chắn là không "không chính đáng". Ngoài ra, nó đã không phãi một chuyến tuần tra thường xuyên, Maddox có một nhiệm vụ gián điệp. Như vậy, nó đã không xẩy ra trong vùng biển quốc tế, mà ở trong hãi phận Việt Nam. Hơn nữa, trái với những lời đã tuyên bố McNamara, không có quả ngư lôi nào chống đối Maddox. Một "tấn công" một khu trục hạm Mỹ, hai đêm sau đó - sự kiện mà Johnson gọi là "cố ý gây hấn" - cũng có vẻ đã được đặt để ra từ đầu.

            Tại thời điểm sự cố, Bộ trưởng Dean Rusk đã được phỏng vấn về việc "tấn công không chính đáng" trên kênh truyền hình NBC: "Vâng, thẳng thắn, tôi vẫn không thể cung cấp cho bạn một lời giải thích thỏa đáng. Đó là một hố sâu của sự hiểu lầm giữa thế giới của họ và chúng ta, tùy theo quan niệm. Những gì chúng tôi tin là thế giới thực, họ thấy ra một cách khác. Lý tưỡng của họ là hoàn toàn sai biệt với chung ta. Vi thế, rất khó khăn trong các quan hệ với nhau qua cái vực thẳm phân chia lý tưỡng".

            "Tấn công Bắc bộ" dẫn đến việc bỏ phiếu cho một nghị quyết của Đại hội (nhất trí trong Phòng Đại biểu và với hai phiếu chống trong Thượng nghị viện) đễ cho phép tổng thống Johnson kích hoạt một chiến dịch quân sự ở Đông nam Á, nếu ông nầy cho là cần thiết.

            Hai tháng trước "Sự kiện Bắc bộ", các nhà chức trách trong Chính phủ Hoa Kỳ đã gặp nhau ở Honolulu đễ thảo luận về quyết nghị trên. Tại cuộc gặp đó, theo các "Giấy tờ Lầu năm góc", Rusk đã cảnh báo rằng "dư luận người Mỹ lúc này [đã] rất chia sẻ về chính sách của  chúng tôi tại Đông nam Á. Qui kết, tổng thống phãi cần một số hỗ trợ". Sự  phân giải ở Đại hội đã cho tổng thống quyền tuyên bố chiến tranh mà không cần phải hỏi trước, như yêu cầu của Hiến pháp về sự cho phép của Quốc hội. Tòa án tối cao, người giám hộ cảnh giác tôn trọng hiến pháp, đã nhận được trong thời gian chiến tranh nhiều kiến nghị yêu cầu ông tuyên bố sự "bất hợp pháp" của chiến tranh. Nhưng lần nào, củng bị khước từ xem xét lại vấn đề ấy.

            BOM NAPALM, THẢM BOM, TRA TẤN, XỬ TỬ LƯỢC

            Ngay sau sự kiện Bắc bộ, không quân Mỹ bắt đầu bắn phá Bắc Việt. Năm 1965, hơn 200'000 lính Mỹ được gửi đến Nam Việt Nam và 200'000 khác vào năm 1966. Đầu năm 1968, họ đã hơn 500'000, và Không quân Mỹ được tham gia vào các vụ đánh bom với một trọng lượng chưa đạt đến trong lịch sử thế giới. Hiếm có là những bằng chứng về các nạn nhân bị đánh bom được ra khỏi Việt Nam. Ngày 05.06.1965, New York Times công bố một thông tin từ Sài Gòn : "Trong khi dân cộng sản bỏ rơi Quảng Ngãi cuối ngày thứ hai, máy bay ném bom Mỹ dội bom xuống những ngọn đồi, nơi họ ẩn núp. Nhiều dân Việt Nam - khoảng 500 - đều  chết dưới các quả bom. Theo người Mỹ, trong đó có binh sĩ Việt cộng, nhưng ba phần tư những người bị thương đến một bệnh viện Việt Nam để điều trị bỏng bom Napalm chỉ là dân làng."

            Ngày 6 tháng 9, một thông tin mới từ Sài Gòn : "Ngày 5 tháng 8, trong tỉnh Biên Hòa, Nam Sài Gòn, không quân Mỹ vô tình ném bom một ngôi chùa Phật giáo và một nhà thờ
Công giáo. [ ... ] Đây là lần thứ ba chùa này bị ném bom năm nay. Một đền thờ của tôn giáo Cao Đài, cùng một vùng, đã bị ném bom hai lần trong năm nay.

            Trong một tỉnh đồng bằng khác, một người phụ nữ hoàn toàn bị bom napalm đốt cháy cả hai tay và mí mắt của mình quá nghiêm trọng không có thể nhắm mắt được. Khi đi ngủ, gia đình cô phải đặt một tấm chăn trên đầu. Trong cuộc tấn công tương tự, người phụ nữ này đã nhìn thấy hai con cô ấy chết. Có rất ít người Mỹ đang hài lòng về nước họ đã ngược đãi miền Nam Việt. [ ... ] Thường dân vô tội bị chết mỗi ngày."

            Những khu vực rộng lớn của Nam Việt Nam được tuyên bố "Khu nổ lửa tự do", có nghĩa là, tất cả những người ở đấy - dân , người cao tuổi và trẻ con bao gồm - đều bị coi là kẻ thù, được ném bom thường xuyên. Các làng nghi ngờ thu thập Việt cộng là mục tiêu của chiến lược gọi là "tìm ra và tiêu diệt". Người đàn ông đến tuổi mang một vũ khí là bị giết  chết, những ngôi nhà bị đốt cháy, còn phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi được gửi vào trại tị nạn. Trong cuốn sách "The Village de Ben Suc", Jonathan Schell mô tả một trong những hoạt động. Làng này bị tấn công và bao vây : một người đàn ông trên một chiếc xe đạp bị giết, ba người gần bờ sông củng bị giết, ngôi nhà phá hủy, phụ nữ, trẻ em và người già nhóm lại và bị trục xuất ra khỏi nhà tổ tiên của họ.

            Trong chiến lược gọi là "chiến dịch Phượng hoàng" (Opération Phénix), CIA đã bí mật thũ tiêu, không có tố tụng, hơn 20'000 người tình nghi là "Cộng sản bí ẩn". Trong tháng hai năm1975, một nhà phân tích của chính phủ miền Nam đã viết trong "Sự  kiện ngoại giao" (Foreign Affairs) : "Mặc dù chương trình Phoenix chắc chắn đã gây nhiều nạn nhân vô tội, nhưng nó đã loại bỏ được một số thành viên của cơ sở hạ tầng cộng sản."

            Sau chiến tranh, các tài liệu mà "Hội chữ thập đỏ quốc tế" đưa ra cho công chúng xử dụng có bằng chứng rằng lúc chiến tranh đến mực tối cao, trong các trại tù binh ở Nam Việt có, giữa 65'00 và 70'000 người đã được giam giữ, bị đánh đập hoặc bị tra tấn với sự hiện diện và đôi khi có sự tham gia trực tiếp những cố vấn Mỹ. Quan sát viên "Chữ thập đỏ" đã chứng kiến sự đánh đập liên tục và có hệ thống trong hai trại chính của tù nhân ở Nam Việt (Phú Quốc và Quy Nhơn), nơi có trụ sở của các cố vấn Mỹ.

            Vào cuối chiến tranh, 7 triệu tấn bom đã được thả xuống đất Việt Nam - nhiều hơn gấp đôi số lượng bom bị bỏ ở châu Âu và Á trong chiến tranh thế giới thứ hai. Ước tính có 20.000.000 "miệng hố bom" trong cả nước. Ngoài ra, 72 triệu lít sản phẩm độc hại "Agent Orange" (có chứa chất độc da cam) đã được đổ tràng để tiêu diệt tất cả các thực vật. Tương đối một khu vực kích thước bằng Massachusetts đã bị phá hủy như vậy. Các bà mẹ Việt Nam đã có thể nhìn thấy nhiều vấn đề lúc sinh đẻ con cái. Các nhà sinh vật học ở Đại học Yale, sau khi thử nghiệm sản phẩm tương tự trên con chuột, thấy phát hiện "khuyết tật bẩm sinh", tuyên bố rằng không có lý do để nghĩ rằng những hậu quả ấy sẻ khác với người.

           Ngày 16 tháng 3 năm 1968, một trung đội Mỹ bao vây thôn Mỹ Lai 4, tại tỉnh Quảng Ngãi. Tất cả người dân làng đã được tập hợp lại trong một con mương, bao gồm cả ông già và phụ nữ đang ôm con trong lòng, trước khi bị sát hại theo khuông phép bởi các binh sĩ. Khi việc kiện tụng của Trung úy William Calley diễn ra sau đó, tờ "New York Times" công bố lời khai của binh sĩ James Dursi : "Trung úy Calley và một lính mang súng trường, người đã khóc, tên là Paul D. Meadlo - ông này đã  cho các trẻ em  ăn kẹo trước khi xử bắn - đẩy các nạn nhân xuống hố. [ ... ] Trung úy Calley ra lệnh bắn, tôi nhớ chính xác như thế nào, hình như "Tự do nổ lửa !". Meadlo quay sang tôi và nói với tôi : "Bắn đi, Chúa ơi ! tại sao bạn không bắn ?" Chúng tôi đã khóc cùng một lúc. Tôi đã nói tôi không thể. Rằng tôi sẽ không làm như thế. Sau lúc đó, Trung úy Calley và Meadlo chỉa súng của họ về hướng con mương và nổ đạn. Người dân rơi vào nhau và các bà mẹ cố gắng để bảo vệ con em của họ."

            Trong cuốn sách Mỹ Lai 4, nhà báo Seymour Hersh kể lại rằng : "Khi các nhà điều tra quân đội tới vùng cấm địa vào tháng 11 năm 1969 về việc Mỹ Lai, họ đã phát hiện ra các ngôi mộ đại chúng trong ba địa điểm khác nhau và một hố đầy các xác chết. Người ta cho rằng có từ 450 đến 500 người, phần đông là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi, đã bị bắn chết và chôn cất tại đó."

            Quân đội  Mỹ đã cố gắng dấu kín những việc đã xảy ra vào dịp này, nhưng bức thư của Ron Ridenhour, một GI người đã nghe nói về cuộc thảm sát, bắt đầu lưu hành. Ronald Haeberle, một nhiếp ảnh gia của quân đội, cũng đã lấy hình ảnh của sự kiện này. Seymour Hersh, sau đó làm việc tại chổ cho Dispatch News Service, một cơ quan báo chí chống chiến tranh, đã viết một bài về đề tài này. Ngoài ra, những câu chuyện của cuộc thảm sát đã được xuất bản vào tháng 5 năm 1968 trong hai ấn phẩm Pháp "Việt Nam trong chiến đấu" và một ấn phẩm khác xuất bản (do đoàn đại biểu Việt Nam đến tham dự các cuộc đàm phán hòa bình Paris), tài liệu mà báo chí Mỹ chẳng hề quan tâm đến.

            "VÂNG, CHÚNG TÔI ĐÃ PHÁ HỦY LÚA GẠO VÀ BẮN CHẾT TẤT CẢ CÁC SÚC VẬT CHĂN NUÔI CỦA HỌ"

            Nhiều sĩ quan tham gia vào cuộc thảm sát Mỹ Lai bị xét xử, nhưng chỉ Trung úy William Calley bị buộc tội và bị kết án tù chung thân. Sự phán quyết đã được sửa đổi hai lần và Calley chỉ bị ba năm tù - Nixon đã ra lệnh rằng ông nầy được chỉ định ở nơi cư trú thay vì bị giam giữ trong một nhà tù bình thường - trước ngày tạm tha. Hàng nghìn người Mỹ đã bênh vực ông ta. Một số vì lòng yêu nước, và để biện minh cho rằng hành động của sĩ quan là cần thiết trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản ; những người khác bởi vì tin rằng Calley đã bị sử dụng như "một vật tế thần" (bouc émissaire) trong một cuộc chiến tranh mà nhiều tội ác cùng một loại đã được thực hiện. Đại tá Oran Henderson, bị cáo buộc tội đã che chở các hành vi tàn bạo của Mỹ Lai, cho biết trong năm 1971 rằng "tất cả các đơn vị cùng loạt đều [có] Mỹ Lai của họ ".

            Mỹ Lai được thực sự xem như độc đáo vì các chi tiết tiến trình của nó. Hersh trích dẫn  lá thư của một người lính gởi cho gia đình và đăng trong tờ báo địa phương : "Thưa bố mẹ thân yêu. Hôm nay chúng tôi đã đi làm một nhiệm vụ mà tôi không rất tự hào về tôi, về bạn cùng lớp của tôi và về đất nước của tôi. Chúng tôi đốt cháy tất cả những ngôi nhà chúng tôi đã  thấy". Đó là một nhóm làng nhỏ các và dân cư cực kỳ nghèo. Đơn vị của tôi đã đốt cháy và phá hoại các tài sản của họ. Hãy để tôi giải thích tình hình. Các lều được làm bằng lá kè. Trong mỗi lều, có một nơi trú ẩn bằng đất khô để bảo vệ gia đình, như loại chống phòng không. Tuy thế, các sĩ quan trong đơn vị của chúng tôi đã quyết định rằng đó là nơi trú ẩn xử dụng đễ tấn công. Đây là lý do tại sao họ ra lệnh chúng tôi đốt cháy thành tro những túp lều mà trong đó chúng tôi tìm thấy những nơi trú ẩn. Khi mười máy bay trực thăng hạ cánh xuống sáng nay ở giữa những ngôi nhà, chúng tôi nhảy xuống và bắt đầu bắn tất cả những gì chúng tôi thấy, thậm chí trước khi bàn chân của chúng tôi chạm vào mặt đất. [ ... ] Đây là nơi chúng tôi đã đốt cháy các túp lều. [ ... ] Tất cả mọi người đều khóc, cầu xin, kêu nài chúng tôi đừng chia rẻ và bắt bớ chồng, cha, con, hoặc ông của họ. Các phụ nữ rên rỉ. Sau đó, họ còn chứng kiến các khủng bố, tàn phá nhà cửa, tài sản và dự trữ của họ. Vâng, chúng tôi đã phá hủy lúa gạo và bắn chết tất cả các súc vật chăn nuôi của họ."

             Việc thảm sát Mỹ Lai bởi một đơn vị binh sĩ là một sự kiện nhỏ so với chương trình hủy diệt lớn hơn nhắm dân sự Việt Nam theo kế hoạch dự định bởi hệ thống quân sự và các tổ chức chính trị Hoa Kỳ. Phó bộ trưởng quốc phòng John McNaughton, nhận định đầu năm 1966 rằng các vụ đánh bom kịch liệt ở các làng Bắc Việt không tạo ra hiệu ứng dự định, đề xuất một chiến lược thay thế. Không kích xuống làng nào dẫn đến "một động lực phản tác dụng về phẫn uất", theo ông, ở nước ngoài cũng như ở trong nước. Do đó ông đề nghị nên tàn phá các thũy môn và đập nước, mà có thể - một lần thực hiện thành công - sẻ có kết quả. Nên tra cứu vấn đề này. Hủy diệt như vậy không giết và không làm chết đuối ai hết. Làm ngập nước các đồng ruộng sẻ gây ra, sau một thời gian, một nạn đói tổng quát (ảnh hưởng đến khoảng một triệu người?) nếu không được cung cấp thực phẩm. Đây là những ý kiến chúng tôi có thể đề nghị để đưa ra "bàn đàm phán".

            Càng ngày chính quyền Sài Gòn không được ưa chuộng, càng ngày những nỗ lực để khắc phục lại chỉ đưa đến tuyệt vọng. Vào cuối năm 1967, một mật báo từ Đại hội Mỹ công nhận rằng Việt cộng đã chia đất đai cho nông dân năm lần hơn chính phủ Nam Việt, mà chương trình cải cách là "gần như đến lúc bế tắc". "Báo cáo này nói thêm rằng Việt cộng [đã] bãi bỏ quyền hành của chủ đất và phân phát đất của chủ nhà hay vắng mặt và của chính phủ Nam Việt cho các dân không có đất và những người [hợp tác] với Viêt cọng.

            Sự mất uy tín của Chính quyền Sài Gòn giải thích sự thành công xâm nhập, vào đầu năm 1968, của mặt trận giải phóng dân tộc tại Sài Gòn và các thành phố khác. MTGP do đó đã có thể khởi động bất ngờ vào dịp Tết (đầu năm Việt Nam) dẫn vào trung tâm của Sài Gòn, ngăn chặng sân bay Tân Sơn nhất và, dù chỉ một thời gian ngắn, chiếm cứ Đại sứ quán Mỹ. Cuộc tấn công đã được đẩy lùi, nhưng nó chứng minh rằng tất cả các lực lượng quân sự Mỹ đưa vào Việt Nam chẳng thành công trong việc phá hủy MTGP, hoặc tinh thần của những thành viên, sự ủng hộ của dân chúng, hoặc nghị lực chiến đấu của họ. Chính phủ Hoa Kỳ bắc buộc phải thẩm định lại tình trạng, và những mối nghi ngờ mới lẻn vào trong tâm trí người Mỹ.

            Những vụ đánh bom kịch liệt nhắm làm suy yếu nghị lực của kháng chiến Việt Nam, như các vụ đánh bom vào dân cư Đức và Nhật bản trong chiến tranh thế giới thứ hai. Tổng thống Johnson tiếp tục tuyên bố rằng chỉ nhắm mục tiêu quân sự mà thôi. Chính phủ sử dụng các biểu từ như "để xét chặc một lần nửa" để chỉ các vụ đánh bom. Các "giấy tờ Lầu năm góc" cho biết rằng CIA đề xuất năm 1966 "chương trình tăng cường bắn phá" dẫn đầu, theo cách nói riêng của họ : "chống lại chế độ như một mục tiêu chấp nhất". 

            BẢY MƯƠI LĂM NGÀN TẤN BOM VÀO AI LAO

            Trong khi đó, qua biên giới Việt Nam với Lào, nơi một chế độ phái hửu được CIA cài đặt phải đối phó với một cuộc nổi loạn ở " Đồng Con ngỗng" (Plaine des Jars) - một trong những khu vực đẹp nhất của thế giới - bị bom Mỹ hoàn toàn phá hủy. Tại Hoa Kỳ, báo chí và chính phủ lặng yên, nhưng một người Mỹ sống tại Lào, Fred Branfman, kể lại câu chuyện này trong cuốn sách : "Tiếng nói từ Cánh đồng Con ngỗng" (Voices from the Plain of Jars) : "Từ tháng 5 năm 1964 để tháng 9 năm 1969, hơn 25.000 máy bay tấn công nhắm mục tiêu đồng bằng này, mà trên đó 75.000 tấn bom đã ném xuống để lại hàng ngàn người chết và bị thương. Hàng chục nghìn người đã đi trú ẩn và xã hội dân sự đã hoàn toàn bị phá hủy." Branfman, người nói tiếng Lào và sống trong một ngôi làng với gia đình Lào, phỏng vấn hàng trăm người tị nạn chạy trốn trong vụ đánh bom để đi đến thủ đô Vientiane. Ông ghi lại lời khai và giữ lại các hình vẻ của họ. Một cô y tá hai mươi tuổi, gốc tích Xieng Khouang, kể lại đời sống trong làng của cô : "Tôi đã chỉ làm một với đất đai, không gian, trong các cao nguyên, đồng ruộng và canh tác của làng. Mỗi ngày và mỗi đêm, trong ánh sáng của mặt trăng, tôi và bạn bè của tôi đi bộ, vừa cười vừa hát thông qua rừng và các cánh đồng ở giữa tiếng chim ca." Vào kỳ thu hoạch và vãi mạ, chúng tôi làm việc với nhau, dù mưa hay nắng, chống chọi với nghèo đói và cực khổ đễ trồng trọt như tổ tiên của chúng tôi đã làm từ trước. Nhưng trong năm 1964 và 1965, tôi cảm thấy như trái đất rung chuyển và nghe những tiếng nổ vang của bom gần đó. Bắt đầu nghe những âm thanh của các máy bay vòng quanh không ngớt trên bầu trời. Một trong số đó cuối cùng đâm xuống vào chúng tôi trong một tiếng sét đánh trong khi một ánh sáng mù mịt và khói bao phủ tất cả mọi người. Mỗi ngày chúng tôi trao đổi tin tức trong vụ đánh bom với những ngôi làng lân cận : những ngôi nhà bị phá hủy, những người bị thương và chết. "Xuống các lỗ !, đi vào các lỗ !". Trong lúc này, chúng tôi chỉ có các lỗ để được sống sót. Chúng tôi, thanh niên, chúng tôi đào lỗ với mồ hôi trán của chúng tôi để bảo vệ chúng tôi, thay vì làm việc ở cánh đồng lúa và rừng để phát triển những gì cần thiết cho đời sống. » 

            Một cô gái khác giải thích tại sao Neo Lao, phong trào cách mạng Lào đã thuyết phục cô và nhiều người trong số bạn bè của cô : "Là một cô gái trẻ, tôi nhận thấy rằng quá khứ chưa bao giờ thuận tiện cho chúng tôi bởi vì người đàn ông lạm dụng chúng tôi và chế diễu chúng tôi, giới tính yếu. Nhưng khi Neo Lao bắt đầu cai trị vùng [...], điều này bắt đầu thay đổi. Với Neo Lao, sự vật cũng đều thay đổi tâm lý. Họ nói với chúng tôi rằng phụ nữ cần phãi dũng cảm như nam giới. Ví dụ, như khi tôi đã đi học trước, người lớn tuổi muốn ngăn cản không cho tôi tiếp tục. Họ nói với tôi rằng nó sẽ là vô dụng vì tôi không bao giờ có thể, dù tốt nghiệp, mong được một trong các chức vụ cao dành riêng cho con em của các tầng lớp giàu có. Nhưng Neo Lao nói rằng phụ nữ nên cùng có một nền giáo dục như nam giới và họ đã chấp nhận các lợi ích tương tự cho tất cả mọi người và đã không đễ ai bóc lột chúng tôi. [ ... ] Các tổ chức cũ đã được thay thế bằng các cơ sở mới. Ví dụ, hầu hết các giáo viên mới và các bác sĩ mới được đào tạo là phụ nữ. Họ đã thay đổi cuộc sống của những người nghèo nhất. [ ... ] Bởi vì họ đã chia sẽ đất đai của những người sở hữu của nhiều cánh đồng lúa với những người không có. »

            Một thiếu niên mười bảy tuổi kể lại sự xuất hiện quân đội cách mạng của Pathet Lào trong làng của anh ta : "Một số đã lo sợ. Đặc biệt những người đã có tiền. Họ cung cấp vài con bò cho các binh sĩ Pathet Lào, nhưng những người lính từ chối. Và khi họ cần xử dụng các sinh vật, họ trả giá phải chăng. Thật sự, họ khuyến khích dân chúng đừng sợ sệt bất cứ điều gì. Sau đó, họ tổ chức cuộc bầu cử người thủ lĩnh trong làng và huyện. Đó là những người đã tự chọn lấy."

            Quá tuyệt vọng, CIA còn chủ mưu đưa bộ lạc Hmong vào một chiến dịch quân sự dẫn đến cái chết của hàng ngàn người của họ. Giống như tình hình đã diễn ra ở Lào, sự kiện này đã thực hiện trong bí mật và gian cố. Vào tháng 9 năm 1973, Jerome Doolittle, một đại diện cũ của chính phủ Hoa Kỳ tại Lào, đã viết trong tờ New York Times : "Những dối trá của "Lầu năm góc" về bom ở  Campuchia nhắc nhở tôi một câu hỏi mà tôi thường tự vấn khi tôi làm đại sứ quán Mỹ tại Vientiane ở Lào : lý do tại sao chúng tôi phải kiên trì nói dối ? '' Khi tôi đến Lào, họ khuyên tôi nên trả lời các câu hỏi của báo chí về chiến dịch ném bom khốc liệt và tàn nhẫn trên đất nước nhỏ này với một loại câu : "Theo yêu cầu của chế độ quân chủ Lào, không quân Hoa Kỳ đi trinh sát thường lệ được bảo vệ bởi một đội máy bay có thẩm quyền ứng đáp trong trường hợp gây hấn." Đó là một lời nói dối. Tất cả các nhà báo mà tôi trả lời biết rằng đó là một lời nói dối. Mỗi thành viên Quốc hội có một chút tò mò và bất kỳ độc giả hiếu tin của báo chí nào cũng nhận thức được rằng đó là một lời nói dối. Cuối cùng, những gian dối ấy được xử dụng để che đậy một cái gì đó cho ai đó, và ai đó chính là bản thân."

            Đầu năm 1968, nhiều người Mỹ bắt đầu nhận thức sự tàn ác của chiến tranh. Nhiều người đã lo âu về khả năng chiến thắng của Mỹ. Bốn mươi ngàn binh sỹ Mỹ đã tử trận và hai trăm năm mươi ngàn người bị thương, trong khi chiến thắng còn hoảng lại về phía chân trời xa xăm. Không quên bên phía Việt Nam, tương đối bị thiệt hại nhiều hơn.

            Uy tín của Lyndon B. Johnson, người đã khởi xướng sự leo thang của cuộc chiến tranh này đi đến lúc thấp nhất, và ông không có thể ra mặt trước công chúng nào mà không có một cuộc biểu tình tổ chức chống lại ông và chiến tranh. Khẩu hiệu "LBJ, LBJ, bao nhiêu trẻ em ông đã giết ngày hôm nay ?" đã được những người biểu tình đưa ra khắp đất nước. Vào mùa xuân năm 1968, Johnson đã thông báo rằng ông sẽ không ứng cử tổng thống, và cuộc đàm phán với người Việt Nam sẽ bắt đầu ở Paris.

            Vào mùa thu năm 1968, sau khi cam kết Hoa Kỳ sẻ đi ra khỏi Việt Nam, Richard Nixon được bầu làm tổng thống. Các binh sĩ bắt đầu hồi hương : tháng 2 năm 1972, chỉ còn hơn một trăm năm mươi ngàn. Tuy nhiên, các vụ đánh bom tiếp tục. Nixon đã tiến hành một chính sách "Việt Nam hóa" cuộc xung đột. Chính quyền Sài Gòn và các lực lượng trên mặt đất Việt Nam sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh với sự hỗ trợ của không quân và tài chánh Mỹ. Trong thực tế, Nixon đã không kết thúc chiến tranh, mà chỉ xóa các khía cạnh không được ưa chuộng nhất bằng cách đình chỉ sự tham dự của binh sỹ Hoa Kỳ trên đất nước ngoài.

             Vào mùa xuân năm 1970, Nixon và Bộ trưởng Henry Kissinger lại dấn vào cuộc xâm lược Campuchia với một chiến dịch ném bom kịch liệt chưa bao giờ được tiết lộ cho công chúng Mỹ hay. Cuộc xâm lược này, khích động một phong trào kháng nghị trong nước, là một thất bại quân sự. Đại hội quyết định rằng Nixon không thể xử dụng quân đội Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh mà không có thỏa thuận của họ. Năm sau đó, không có sự tham gia của quân đội Mỹ, Hoa Kỳ ủng hộ cuộc xâm lược Lào do người Việt Nam khởi hành. Thất bại thêm lần nửa. Năm 1971, 800.000 tấn bom đã được Hoa Kỳ ném vào Lào, Campuchia và Việt Nam. Cùng lúc đó, chính quyền Sài Gòn, do tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người sau cùng trong một chuỗi dài các lãnh đạo Nam Việt, đã ném hàng nghìn đối phương vào tù.

            PENTAGON PAPER

             Khi chiến tranh không được dân chúng Mỹ ưa chuộng nửa, một số chức trách và thậm chí một số thành viên của chính phủ bắt đầu phá vỡ luật im lặng. Trong số đó Daniel Ellsberg đã đưa ra một ví dụ kỳ diệu nhất. Nhà kinh tế học được đào tạo tại Đại học Harvard và là cựu sĩ quan trong quân đội, Ellsberg làm việc cho Tổng công ty RAND, về nghiên cứu đặc biệt và đôi khi bí mật cho chính phủ Hoa Kỳ. Daniel Ellsberg tham gia soạn thảo các văn bản về lịch sử Việt Nam ở Bộ Quốc phòng, trước khi quyết định với sự giúp đỡ của người bạn của ông Anthony Russo, một cựu nhân viên của RAND, phổ biến cho công chúng các tài liệu "siêu bí mật."

            Hai người bạn đã gặp nhau tại Sài Gòn nơi họ đã phần uất - qua các kinh nghiệm trực tiếp của chiến tranh - và hãi hùng về hành động của Hoa Kỳ đối với dân Việt Nam. Hai người đã qua nhiều đêm trong văn phòng của một người bạn để sao chụp 7'000 trang tài liệu.

            Ellsberg đã gửi các bản sao cho một số thành viên của Quốc hội và tờ New York Times. Tháng 6 năm 1971, tờ báo này đã phát hành các "bản trích sao" được gọi là các "giấy tờ Lầu năm góc".  Gây ra một phản đối công cộng lớn !.

            Chính quyền Nixon đã cố sức ngăn cấm phát hành toàn bộ các tài liệu - qua Tòa án tối cao -, nhưng tòa án tuyên bố rằng đó là một "vi phạm căn bản", và do đó "phi hiến pháp" về tự do báo chí. Sau đó, chính phủ kiện Ellsberg và Russo, theo luật pháp về hành động gián điệp, cung cấp cho nhửng người không có phép các tài liệu phân loại như là bí mật. Hai người này có thể bị nhiều năm tù nếu được công nhận là thủ phạm, nhưng cuối cùng đơn kiện đã bị hủy bỏ trong các thảo luận đầy đủ của ban giám khảo, điều tra đang diễn ra về vụ Watergate đã tiết lộ các hành vi bất hợp pháp của bên tố cáo.
            . . . . . . . . . . .

            Đọc đến đây các bạn đã hiểu rỏ lý do vì sao các cường quốc muốn xâm chiếm Đông Dương, hòn ngọc ở Viển Đông !

            Tôi xin dừng việc dịch thuật ở đây, vì các trang sau, nói về phãn ứng của dân chúng Hoa Kỳ (ở ngoài đề tài "Một bọn côn đồ chính khách".)

            Thực ra đây là một bài học về chính trị hơn là một bài học lịch sử, vì lịch sử cứ tái diễn mãi nếu các cường quốc còn mang "nghiệp chướng" Tham-Sân-Si.
            Còn về chính trị cũng rất khó mà lay chuyển nổi các thành kiến và luận điệu xuyên tạc thực tế của các chính khách hiếu chiến và vị lợi trong các cường quốc.

            Leukerbad - Lausanne
            Ngày 9 tháng 11 năm 2013
            L. Đ. T.
 
            Xem bài trước đây : "
Một trang thãm sử " Một bọn ác côn đồ đáng nguyền rủa !  

                       Editions LIBERATIONS du Sud VIETNAM Octobre 1965.

                               "Miền Nam Việt trên đường chiến thắng "

            Sách này được ấn hành năm 1965 lúc miền Nam khởi chiến với quân đội Mỹ. Nông dân Nam bộ có tinh thần kháng chiến rất cao không kém quân nhân Bắc bộ. Phãi chống đối hằng ngày với hai địch thủ : chế độ thân Mỹ và quân đội Hoa Kỳ. Ý chí quyết thắng đã đi đến thành công (xem bài ở trên).

           Nhà khoa học nổi tiếng của Anh, BERTRAND RUSSELL : "Cuộc chiến tranh này là một tàn ác. Tàn ác bởi vì ngoài việc xử dụng vũ khí như bom napalm, còn dùng chiến cụ hóa học để tàn phá thực vật và tiêu diệt các động vật hoang dã trong nước, làm miền Nam Việt Nam giảm dân số vì đói khó ... Chúng ta hiện diện trước một cuộc chiến tranh diệt chủng." (Trích ở New york Times ngày 12. 01. 1963).

Chị cỏng em đi tránh bom (Các hình ảnh này đều được trích ra ở cuốn sách trên đây).

Ba mẹ con sau khi bị đánh phá, nhà của tan tành !

 

Một trẻ em "viêtcong" bị giam vì có thể làm "nguy cơ cho an ninh Hoa Kỳ" !  Tất nhiên, vài năm sau nó có thể chẻ tre làm bẩy (Xem ảnh dưới đây).

                                                

                                      Các trẻ em vót tre lám bẩy.

 

 Làm bẩy tre mủi nhọn trưóc khi chôn lấp.

 Chiến lược "làng tự vệ", thực ra là "nhà giam dân cư" đễ tránh giao dịch và tiếp tế cho ViệtCọng. Lúc ấy đã bị MTGP phá hũy 80 %.

   Tiếp tế quân đội trong rừng.

    Quân đội giãi phóng cắm trại trong rừng.  Không quân Mỹ không thấy được. Vì thế, chúng xử dụng chất độc da cam (dioxine) đễ hủy hoại thực vật, phá rừng cây cối, và gián tiếp, súc vật cùng nhân dân vô tội …

 

 Trong đồng lau sậy (Plaine des Joncs) Phụ nữ chuyên chở quân đội giãi phóng.

MTGP miền Nam đột kích sứ quán Mỹ Saigon, 30.03.1965 

Tướng Maxvell Taylor đến quan sát sân bay Biên Hòa sau cuộc đột kích MTGP miền Nam ngày 31.10.1964.

      Nguyễn văn Troi, trước khi bị xử bắn, vì muốn ám sát MacNamara ở Saigon, tuyên bố : "Tôi không lúc nào làm hại cho dân tộc tôi. Kẻ thù của chúng tôi là đế quốc Mỹ đến đây đễ tàn sát nhân dân … Tôi chống đối quân xâm lược Hoa Kỳ ở Việt Nam".

 

 Biểu tình chống chiến tranh tại New York 1965.

 Biểu tình chống chiến tranh tại Thuy Sĩ - Genève  1965.  

            Lyndon Johnson nhấn mạnh : "Chúng ta thấy cần phãi xử dụng súng đạn và máy bay … Chúng ta sẻ dùng vũ lực …" (Trích trong bài diễn văn tại Baltimore ngày 7.04.1965).
            Hiếu chiến lúc ban đầu, loại bỏ Ngô Đình Dim đễ rảnh tay xâm chiếm Việt Nam (Tỷ số quân đội Mỹ lên đén 500'000). Nhưng trước phãn lực của quân đội Giãi phóng miền Nam và miền Bắc đành rút lui nhường chổ cho Nixon (Xem bài trên). Nixon củng thất bại ...

                                       __________________________________

          Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức liên minh quân sự và chính trị, dân tộc chủ nghĩa cánh tả, hoạt động chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam

            Chính phủ Ngô Đình Diệm được sự hỗ trợ của Mỹ không thi hành Hiệp định Genève về Việt Nam, làm trở ngại cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy trong phong trào Đồng khởi ở miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam ra đời ngày 20 tháng 12, 1960. Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày
16 tháng 2 năm 1962 tại Tân Biên (Tây Ninh) chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.

            Tổ chức này được thành lập dưới sự hậu thuẫn và được hỗ trợ tài chính, thiết bị và nhân sự do nhiều bộ phận dân cư tại miền Nam Việt Nam cũng như của chính phủ và quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

            Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tồn tại như một chính thể và Ủy ban Trung ương hoạt động như là một chính phủ lâm thời, đại diện cho các vùng thuộc quyền kiểm soát, quản lý các vùng do Mặt trận quản lý, nhằm tạo vị thế chính trị cho phong trào đấu tranh chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đồng thời quản lý các vùng đất do họ quản lý có được kể từ sau phong trào đồng khởi.

            Quân Giải phóng Miền Nam đã được thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1961, do Trung ương cục miền Nam lãnh đạo, sau đó gia nhập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Quân Giải phóng Miền Nam đã thực hiện chiến tranh du kích chống lại chính quyền Sài Gòn, với chi viện về vũ khí và người từ miền Bắc.

            Trước 1975, Mặt trận này tuyên bố là tổ chức độc lập với Miền Bắc. Từ 31 tháng 1 năm 1977, tổ chức này sát nhập hoàn toàn với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

           
Hai nhân vật nổi tiếng trong Mặt trận giãi phóng miền Nam :

             NGUYỄN HỮU THỌ

            Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bí danh là Ba Nghĩa, sinh ngày 10-7-1910 trong một gia đình công chức trung lưu tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc thị trấn Bến Lức, tỉnh Long An).

            Năm  1921, khi mới 11 tuổi, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ rời quê hương sang Pháp học tại Trường Mignet. Năm 1928 ông được nhận vào học khoa Luật của Trường đại học Luật khoa và Văn khoa Aix en Provence. Với bằng cử nhân luật học loại xuất sắc, ông về nước tháng 5-1933, làm tập sự tại văn phòng luật sư của một người Pháp ở Mỹ Tho. Sau 5 năm tập sự, Nguyễn Hữu Thọ vượt qua kỳ sát hạch với hạng ưu, trở thành một luật sư thực thụ rồi mở văn phòng luật sư riêng.

            Năm 1946, chính quyền Pháp bổ nhiệm ông làm Chánh án tỉnh Vĩnh Long. Ngay sau đó, ông nhận được thư của luật sư Phạm Ngọc Thuần, lúc đó là quyền Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ mời vào thăm Đồng Tháp Mười. Tại đây, ông đã gặp nhiều trí thức Nam Bộ như luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, giáo sư Hoàng Xuân Nhị, kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt. Sau chuyến đi này, ông đã từ chức Chánh án, lên Sài Gòn thuê nhà mở văn phòng luật sư tại 152 đường De Gaulle, nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

            Ngày 25-4-1947, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đề nghị chính phủ Pháp chấm dứt mọi hành động chiến tranh. Ông đã vận động các nhân sỹ, trí thức ký vào bản tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn đòi chính phủ Pháp đáp ứng yêu cầu chính đáng của chính phủ Việt nam. Chỉ trong một tuần lễ, đã có hơn 700 trí thức và thương gia ký vào bản tuyên ngôn đó. Ông cùng một số nhân sỹ, trí thức tiêu biểu đã trao tận tay bản tuyên ngôn cho Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Sự kiện này đã tạo nên một tiếng vang lớn, gây chấn động dư luận.

            Đầu năm 1947, luật sư Nguyễn Hữu Thọ từ chức Chánh án Tòa án dân sự tỉnh Vĩnh Long để lên Sài Gòn, mở văn phòng luật sư riêng tại số nhà 152 đường Charles de Gaulle (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3). Cũng tại đây văn phòng luật sư của ông đã trở thành điểm tập hợp giới trí thức tiến bộ ở Sài Gòn và cả miền nam. Ông tham gia hầu hết các phong trào đấu tranh đặt biệt là các phong trào học sinh, sinh viên yêu nước..

            Tháng 6 năm 1950 ông bị Pháp đưa ông ra Bắc đi đày và quản thúc tại Bản Giẳng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nơi “ngã ba biên giới” Việt Nam - Lào - Trung Quốc. Khi quân đội ta tiến lên giải phóng Tây Bắc thì chúng đưa ông về giam ở Sơn Tây.

            Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của Đoàn luật sư và nhân sỹ, trí thức yêu nước ở Sài Gòn- Gia Định, tháng 11-1952, ông được trả tự do và trở về Sài Gòn, mở lại văn phòng luật sư, tiếp tục đấu tranh. Ông lại tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp, đòi hòa bình ở Sài Gòn - Chợ Lớn, là Phó chủ tịch Phong trào hòa bình Sài Gòn-Chợ Lớn.

            Để ngăn chặn ảnh hưởng to lớn của ông, chính quyền Pháp lo sợ, nên sau đó chúng đã bắt ông lưu đày. Hơn chín năm, ông bị chính quyền thân Pháp, rồi chính quyền thân Mỹ quản thúc lưu đày từ Khám lớn Sài Gòn, ngày 15-11-1954, tới vùng cao huyện Củng Sơn (Phú Yên).

            Ngày 30-10-1961, luật sư đã trốn thoát từ nhà lao Phú Yên và về thẳng vùng căn cứ tại Tây Ninh. Tại Ðại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam.

            Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập vào tháng 6 năm 1969, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn.
            Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất. 
            Tháng 4 năm 1980, sau khi Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng qua đời, ông làm Quyền Chủ tịch nước cho đến tháng 7 năm 1981. 
            Năm 1981, ông là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho đến năm 1987, rồi là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tại đại hội năm 1988.

            Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/12/1996.

 
            NGUYỄN THỊ BÌNH

            Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa hay Nguyễn Thị Châu Sa, sinh nǎm 1927 tại Sa-đéc, tỉnh Đồng Tháp ; quê quán ở tỉnh Quảng Nam ; cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh, nhà chí sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX.

            Kế thừa truyền thống yêu nước của gia đình, bà sớm tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của đất nước (1945). Bà là một trong những người lãnh đạo phong trào Phụ nữ cứu quốc Sài Gòn - Chợ Lớn; tham gia lãnh đạo phong trào học sinh sinh viên, phong trào phụ nữ cấp tiến với cái tên "Yến Sa" ; tham gia  tích cực phong trào đấu tranh bảo vệ hoà bình của giới trí thức.

            Năm 1951, bà bị bắt giam và bị tra khảo tại bót Catinat, sau đó bị giam ở Khám Lớn rồi nhà lao Chí Hòa (1951-1953). Năm 1954, bà ra tù và tham gia luôn vào phong trào hoà bình đòi thi hành Hiệp định Genève. Năm 1955, bị chính phủ miền Nam theo dõi, bà ra Bắc tập kết đễ chờ cơ hội trở về Nam.

            Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.  Năm 1962, bà được điều trở lại miền Nam với cái tên mới là Nguyễn Thị Bình, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Mặt trận Giải phóng.

            Là Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), rồi Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Trưởng Phái đoàn đàm phán tại Hội nghị quốc tế Paris về Việt Nam, làm một trong bốn bên ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam nǎm 1973. Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Chính phủ CHXHCN Việt Nam 1976-1987. Từ nǎm 1992 là Phó chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2002.