Thuyêt Âm - Duong

            1.- NGUỒN GỐC CỦA CÁC BIỂU TƯỢNG ÂM VÀ DƯƠNG 

             Người phương Tây một khi đề cập đến tư tưởng trung hoa thường hay nói tới    “ trí huệ ” thay vì “ triết lý ” và thậm chí xem như là không có tính cách “ tôn giáo ”. Chỉ vì từ thời cổ đại, người trung hoa là một dân tộc dựa vào thực nghiệm, đã tạo ra một nền văn minh dựa vào “ quan hệ nhân loại ” : mối quan hệ giữa những con người với nhau, giữa người và môi trường xung quanh.                

              Sống giữa Trời và Đất, những cổ nhân trung hoa, dân nông nghiệp, quan sát chu kỳ bốn mùa, theo chuyển động của mặt trời và mặt trăng để thích ứng với việc cày bừa và sinh tồn của họ.          

               Từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên, từ ngữ Âm và Dương được các thầy địa lý dùng trong lúc đi tìm một vị trí ưu việt và thích đáng để xây dựng nhà ở, đền thờ hay công sở ( ngay như những lăng mộ hay các đài tưởng niệm khác ). Nghĩa gốc của Âm là những gì nghiêng về phía sẫm đồi núi ( sườn sấp bóng ) hay phía Bắc, trong khi Dương chỉ về hướng rực ánh mặt trời ( sườn dãi nắng ) phía Nam.          

                Ở phương Đông, thời gian được xem như gắn liền với không gian. Những biểu tượng Âm và Dương được các nhà thiên văn học dùng để soạn Lịch trung hoa dành cho việc lập thời biểu công việc đồng áng và những sinh hoạt cộng đồng ( lễ lạc, ma chay, cưới hỏi, hội hè khác, v.v…). Danh từ Âm gợi lên ý nghĩa trời mây mù, có mưa, lạnh lẽo, mùa đông. Chữ Dương chú tâm đến trời rực nắng, nóng nực, mùa hè. Âm và Dương xuất hiện như những nguyên tắc chuyển động các mùa quy định trật tự hoạt động nhân loại. Âm tương ứng với tổng thể năng lực tiềm ẩn ( Đông ), Dương tương ứng với tổng thể năng lực phấn chấn ( Hè ) của con người thời cổ đại này, khi thì tiêu hao trên những cánh đồng cháy nắng, và khi thì tái tạo năng lượng trong âm u cho việc hồi sức mùa đông.        

               Những người đàn ông làm việc dưới ánh mặt trời là các nông dân, ngư dân hoặc thợ săn. Người đàn bà thì dệt cửi và may đan áo quần trong bóng râm. Các lãnh vực riêng của chúng là nội vụ và ngoại vụ. Đó cũng chính là những phạm vi riêng biệt của Âm và Dương, của bóng tối và ánh sáng. Cũng như đối lập giới tính được diễn dịch là tương phản của Âm và Dương.  

               Sự tương phản của hai cực Âm và Dương hiện ra như là nền tảng của trật tự xã hội và dùng làm nguyên tắc phân phối theo mùa vụ các hoạt động của hai tập hợp đối kháng nhưng liên đới và bổ sung, luân phiên như ngày và đêm hay bốn mùa, tuần tự trôi qua, lần sau đến lần trước.              

                Âm và Dương, biểu thị trật tự xã hội cũng là biểu thị trật tự toàn cầu mà việc vận hành theo chu kỳ được tạo nên bởi hai tính đặc trưng : luân phiên và hỗ tương.             

                Biểu hiện Không gian và Thời gian với những thay đỗi, biến chuyển, biểu hiện Nam và Nữ với các tính cách, sinh hoạt của chúng, biểu tượng vũ trụ với chu kỳ và sự luân phiên, cặp đôi “ Âm – Dương ” là biểu tượng tổng thể của Đạo.                 

                            ÂM                                                              DƯƠNG            

                           Đất                                                                Trời    
                         Mặt trăng                                                      Mặt trời           
                           Đêm                                                              Ngày   
                           Đông                                                             Hè       
                         Bóng tối                                                        Ánh sáng          
                         Tính thụ động                                               Tính hành động            
                         Bên trong                                                      Bên ngoài        
                         Nữ, v.v…                                                      Nam, v.v…       

                  II. -  “ ĐẠO ” VÀ BIỂU TƯỢNG 

                Từ ngữ “ Đạo ” tiếng trung hoa nghĩa là con Đường. Con Đường chi phối Vũ trụ được xem là con Đường đương nhiên mà nhân loại phãi đi theo.     

                Nguyên tắc nền tảng của con Đường là sự Vận hành. Vũ trụ được hiểu như là một hệ thống động lực thay đổi liên tục. Châm ngôn trung hoa được diễn giải bằng hình tượng và khó hiểu “ Một lần Âm, một lần Dương, đó là Đạo ” không phải hiểu theo cách dịch thuật văn học mà có nguy cơ sai nghĩa. Nên nhờ vào thể thức tam đoạn để tránh việc giải thích từng phần :      

          a.- “ Một thời Âm, một thời Dương,   
          b.-    Một bên Âm, một bên Dương,     
          c.-    Một mặt Âm, một mặt Dương,    
                  Đó là Đạo ”.      

                Sự đối lập Âm - Dương, không như suy tưởng phương tây, một đối lập tuyệt đối, nhị nguyên, có thể so sánh với tương phản Tồn tại và Không Tồn tại, Thiện và Ác, sự Sống và cái Chết, Thượng Đế và Ma Quỷ. Trái lại, đó là một đối chiếu tương quan, nhịp nhàng, luân phiên của hai phương diện phản đề, hai thực thể đối kháng nhưng lại bổ sung, vì chúng chỉ là hai biểu trưng của cùng một Thực Tại. Thực tại này thường được gọi là Thực tại – Tận cùng, Nguyên tắc Tối cao hay nói đơn giản là Đạo.

              Như vậy, Đạo được tượng trưng bằng một biểu đồ chia làm hai phần đen và trắng có hình dạng hai phôi châu, hai con nòng nọc móc nhau lộn đầu đuôi. Phần sáng bên trái biểu thị Dương, phần tối là Âm. Dương bắt nguồn ở cực thấp, chuyển qua trái và đạt đỉnh cực cao.       

               Dương bên trái bắt nguồn từ bậc thấp lên bậc cao đạt đỉnh điểm đồng thời nhường bước cho Âm đến lượt khởi nguồn lên đến cao trào rồi lại nhường phiên Dương và như thế liên tiếp. Hai điểm đen và trắng có ý nghĩa rằng : mỗi khi Dương hay Âm đạt dến cao điểm thì nó đã chứa mầm đối kháng. Như vậy không có gì là duy nhất Âm hay duy nhất Dương.

            Mọi hiện tượng thiên nhiên là những biểu hiện của giao động tiếp diễn giữa Âm và Dương theo tỷ lệ khác nhau và không thể tưởng tượng một cách riêng biệt. Tất cả những chuyển tiếp được tiến hành tuần tự theo một mực độ liên tục mà việc cân bằng động lực ( giữa Âm và Dương ) hòa hợp thành trật tự thiên nhiên.

             Quan niệm một thế giới vận hành tiên tục và biến đổi không ngừng này được phát triển thành một hệ thống của các kết hợp khác nhau của hai nguyên lý đầu tiên Âm và Dương trong Kinh Dịch hay “ Sách Biến chuyển ”.           

 
       III.-  KINH DỊCH HAY “ SÁCH BIẾN CHUYỂN ”                         

              Kinh Dịch, sách Đạo được xem như là sách cổ nhất trung hoa, phương tây gọi là “ Sách Đổi thay ”, “ Sách Biến đổi ” hay “ Sách Chuyển hóa ”, tất cả tỏ bày ý niệm Vận hành.               

               Quả thật, chữ hán Yi có nghĩa là vận hành, thay đổi, di chuyển hay biến đổi tùy theo trường hợp. Chữ “ King ” chỉ những sợi canh dệt ngang của tấm vải mà người ta phối hợp nhiều cách khác nhau để tạo ra nhiều kiểu mẫu và hình dạng.            

               Khởi đầu, Kinh Dịch được cho là sách bói toán bao gồm 64 hình thái hoặc các quẻ sáu hào, tạo thành những biểu tượng Âm và Dương. Thời cổ đại, những lời phán truyền xa xưa nhất chỉ giới hạn ở câu trả lời “ được ” và “ không được ”. Kinh Dịch đã xử dụng ngôn ngử nhị nguyên này để diễn dịch các tập hợp của Dương, “ được ” biểu hiện bằng một vạch liền ( - ), và của Âm, “ không được ” bằng một vạch đứt quảng ( - - ). Toàn bộ hệ thống quẻ sáu hào được xây dựng trên nền tảng của hai vạch biểu tượng này.                

              Bằng cách phối hợp chúng hàng hai, ta thu được bốn hình thể : 

                                 
 
             

                Thêm hàng thứ ba, ta đạt được tám quẻ “ tám hào ” : 

 

               Dùng sáu nguyên tố làm thành quẻ “ sáu hào ”, số lượng những tổ hợp nâng lên 64 quẻ sáu hào, được sắp đặt với nhiều mô hình mà đây là hai cách thông dụng nhất : 

              Theo Kinh Dịch, những quẻ tam hào và sáu hào thể hiện những đặc trưng của Đạo, được hình thành bởi các tương tác năng động của Âm và của Dương, nó phản ảnh trong nhiều hoàn cảnh khác nhau của con người hoặc nơi các hiện tượng thiên nhiên, được xem như là những giai đoạn thay đổi không ngừng.               

                Nhận thức của Đạo, tri thức hay quy luật của việc biến chuyển này được diễn tả bằng hình tượng trong 64 mẫu gốc thuộc vũ trụ, đem lại một tầm nhìn thỏa mãn về các sự kiện, phát kiến trường hợp hiện tại giữa các hình thức kết hợp hay đối kháng để có một quyết định đúng đắn và hợp thời.  

               Thêm vào đầu mỗi chương Kinh Dịch, mỗi một quẻ trong số 64 quẻ có một ý nghĩa rõ ràng, sáng tỏ bằng những châm ngôn và lời bình giãi ở đó người ta phân định giá trị của lời phán truyền, nhưng thực ra đó là kết quả mỹ mãn của chuỗi kinh nghiệm truyền thống.   

             Mỗi quẻ sáu hào có thể đi đến một quẻ khác bởi một động thái tương ứng của một hoặc nhiều vạch ( Âm và Dương ); như thế ta thu được ít nhất là 4.096 tình huống trãi qua khác nhau ( 64 x 64 = 4.096 ) được cho là ứng dụng với tất cả mọi giải pháp có thể xảy ra đối với hành vi cá nhân trong bối cảnh đặc thù của nó.

              Trong vận dụng khả năng thuộc vũ trụ hay con người, càng nhiều lựa chọn khác nhau thì tự do hành động càng lớn ( thích ứng và sáng tạo ). Tư tưởng trung hoa không ca tụng chủ nghĩa quyết đoán hà khắc. 

             IV.-  ĐẶC TÍNH CỦA ÂM VÀ CỦA DƯƠNG       

             Tư tưởng trung hoa không dung nhận thuyết nhị nguyên, nhất là thuyết nhị nguyên nôi theo môn đệ Descartes phương tây.                

             Âm và Dương không được xem như là đối lập hay trái ngược. Cả hai đều xuất phát từ Đạo cùng biến chuyển thường kỳ, chúng bổ sung cho nhau, có nghĩa là tất yếu và cần thiết cái này cho cái kia. Việc phụ thuộc lẫn nhau của chúng có thể so sánh như sự đồng hòa trong dòng điện của hai điện cực : cực tích ( + ) cực tiêu  ( - ). Mỗi điện cực trái ngược nhau nhưng chính việc kết hợp cùng nhau mà tạo ra dòng điện. Không có sai biệt hiệu số điện thế thì không có dòng điện. Nguyên lý đối cực, thể hiện nhiều trong thiên nhiên và khoa học, bao hàm tất yếu nguyên tắc bổ sung.      

             Tư tưởng trung hoa, hình tượng quy luật phổ thông, chấp nhận hoàn toàn thuyết tương đối. Âm và Dương không bao giờ được xem như là tuyệt đối. Mặc dù theo truyền thống Âm được đồng hóa là bản tính nữ và Dương là bản tính nam, nhưng xã hội phương Đông thừa nhận việc đồng tính luyến ái dễ dàng hơn ở phương Tây. Đối với người Trung hoa, đàn ông hay đàn bà đều có sở hữu tính Âm và tính Dương theo tỉ lệ không chừng mực, tùy theo cách cư xử và hoàn cảnh cuộc sống của mỗi người. Một người đàn ông có thể là “ âm ” khi trực diện với người bề trên hoặc cha của mình, và “ dương ” đối với vợ hay con cái của mình. Một thần tử có thể “ dương ” khi đối mặt với vị đế vương bất xứng, và chuyển thành “ âm ” bằng cách cáo quan từ chức, lui về quê ẩn dật. Và tùy theo lúc, ông có thể tự để lộ tính “ âm ” với vợ con và đôi khi lại nhường chổ cho chúng nếu hoàn cảnh bắt buộc như thế.             

            Trong cuộc sống, mọi người có thể trải qua những lúc âm và dương, như là xã hội qua các thời kỳ ổn định và hỗn độn, như thế giới luân phiên với chiến tranh và hòa bình.             

               Đạo Lão nguyên thủy được xem như là “ âm ”, là thiên nhiên huyền bí, trầm tư, hướng đến phát triển nội tâm bằng nhận thức trực giác.  

                Đạo Khổng nguyên bản được diễn đạt như là “ dương ”, thuần lý, điều phối, quản lý trật tự xã hội bằng nhận thức thực dụng, chú trọng việc cải thiện các mối quan hệ của con người.           

                 Hai luồng tư tưởng này thay vì chống nhau lại bổ sung cho nhau. Theo Trang Tử, bậc thầy Lão giáo thế kỷ thứ IV trước Công nguyên : “ Những người được hiện thực hóa hoàn toàn bởi “ tĩnh ” trở thành các nhà Hiền Triết ( hình ảnh các vị thánh ở phương Tây ), bởi “ động ” thì thành các Vua ( hình ảnh những anh hùng phương Tây ) ”. Môn đệ của Lão Tử muốn nói chính nhờ đó mà con người “ sáng suốt ”, hiểu được Đạo hay quy luật vũ trụ, biết cách ứng dụng hài hòa cả Âm và Dương.

                  Như vậy, một người Trung hoa, cùng lúc hay lần lượt ( thông thường nhất ) có thể theo đạo Khổng, theo đạo Lão rồi theo đạo Phật, hoàn toàn tự nhiên, không rối loạn ý thức, không mặc cảm tội lỗi. Khi phương Tây bảo là “ cảm hóa ”, phương Đông hiểu là “ cởi mở ”.       

                  Cũng như thế, việc đồng tính luyến ái do sự chi phối của tỷ lệ  “ âm ” hay  “dương ” trong đàn ông, đàn bà ít thấy được nêu lên vì người phương Tây cho là  “đồi bại ” trong khi người phương Đông cho việc đó chỉ là “ xu hướng ”.        

                  Triết học phương tây phân tích những sự việc nơi bản chất của chúng, trong khi tư tưởng trung hoa khảo cứu mọi vật trong các biến hóa thay đổi của nó. Điều hay không phải là sự suy tưởng thụ động mà là một cái nhìn năng động về các xu hướng và các quan hệ hỗ tương của chúng (và phản ứng liên đới).              

                  Như thế, nền văn minh phương tây quy về “ dương ”, năng động và duy lý, chi phối bởi tư duy giải tích với ưu thế của những nhà khoa học, bác học về mọi lãnh vực : nghệ sĩ, thi sĩ, triết gia ….  

                  Mặt khác, xu hướng “ âm ” xuất hiện trội hơn trong nền văn minh phương đông khá thụ động, ở đây tư duy trực giác và tổng hợp thắng thế, các nhà khoa học hoạt động kém và thế giới thần bí được chấp nhận dễ dàng hơn.                 

                  Vả lại, văn minh “ âm ” có thể chuyển qua “ dương ” – bởi vì mầm mống đã có sẳn – như là nền văn minh Nhật Bản được phong phú thêm nhờ kỷ nghệ phương tây. 

                   Tương tự như vậy, nền văn minh “ dương ” nhiều hay ít có thể chuyển sang   “ âm ” – mầm đã có sẵn ở trong – cũng như văn minh phương Tây sau thế chiến thứ hai, với việc hâm mộ dành cho văn hóa đông phương, y học trung hoa, yoga ấn độ, không quên sự thức tỉnh mãnh liệt của thuyết nam nữ bình quyền – “ âm ” đương nhiên – đã gây bất ổn khủng hoảng cho thế hệ “ dương ” nam giới.              

         V.-  KHÁI NIỆM TÍNH BỔ SUNG      

               Hiện nay, ý niệm “ hệ thống ” được xem như là mô hình biến hóa mới hay một kiểu tư duy mới, đối nghịch với tư tưởng phương tây gọi là “ phái Descartes-Newton ” với tính cách phân tích, duy lý, cơ khí, độc tiến, đơn thuần. Tư duy hệ thống có tính chất tổng hợp, toàn diện, với tiềm năng tự tái sinh, tự tổ chức cả đến tự siêu nghiệm. Nó thiết kế con người trong các tương tác với môi trường xung quanh mà chinh nó là một hệ thống sinh động có khả năng thích ứng, sáng tạo và tiến hóa ; từ đó gọi là ý niệm “ sinh thái ”.            

               Những tín đồ mới của tư duy hệ thống tìm cách hạ thấp, thậm chí làm mất uy tín tư tưởng cổ phái Descartes-Newton, không biết rằng sự đối lập của hai ý niệm này tuy tương phản nhưng bổ sung chặt chẻ, như là Âm và Dương.               

                Khái niệm bổ sung là chủ yếu trong lãnh vực vật lý nguyên tử và hạ nguyên tử. Theo nhà vật lý học Fritjof CAPRA (1), khái niệm này cho phép dễ dàng nắm được thuyết tương đối của Einstein mà theo đó thời gian và không gian không còn được xem là hai thực thể tách biệt. Bằng một tia sáng mới nó giải thích cái nghịch lý của thuyết lượng tử mà theo đó một điện tử có thể hoạt động khi thì như “ hạt ”,  phần tử, khi thì như “ sóng ”:  

  

         Hạt và Sóng        

                

             Quả thật, sự đối lập giữa hình hạt và hình sóng chỉ là bề ngoài và tùy thuộc vào vị thế. Trong một số trường hợp, hạt chi phối, ở tình huống khác thì những hạt tác động như sóng ; và lưỡng tính này cũng được biểu thị trong ánh sáng và toàn bộ bức xạ điện từ khác. Như vậy, ở cấp độ hạ nguyên tử, vật chất không xác định tồn tại với những vị trí hạn định, nhưng chỉ biểu lộ các “ xu hướng hiện hữu ”, và các hiện tượng nguyên tử không khẳng định xảy ra bất thần, mà lại phát xuất ra những “ xu hướng xảy ra ”, được thể hiện như là những khả năng ước đoán (2).               

             Tương tự như vậy, việc chẩn đoán Kinh Dịch là một phương tiện dùng khả năng bói toán mong tìm thấy một lối thoát trong sự phức tạp của mọi hoàn cảnh con người, được hiểu không phải ở thế tĩnh mà xem như các giai đoạn tạm thời, chuyển tiếp trong một quá trình liên tục thay đổi. 64 quẻ không chỉ dẫn cho mọi người một hay nhiều giải pháp rõ ràng và kỳ diệu, nhưng theo sự nghiên cứu các chuyển đổi và biến hóa của những vạch âm và dương thì nó lại phát xuất xu hướng những “ sự kiện xảy ra bất ngờ  ” của các kết quả có khả năng chính xác. Sự tương tác và biến động của âm và dương dù nhiều hay ít đều có thể thay đổi hoàn toàn trạng huống của một hoàn cảnh, củng như những khả năng ước đoán phức tạp trong việc hợp nhất hệ thống điện các hạt mà biến đổi chúng thành hai hình tượng xung khắc : hạt và sóng cùng nhau vận hành trong vũ trụ.             

                Khi đi du lịch sang Trung quốc năm 1937, vật lý gia Đan mạch Niels BOHR, người đã đưa khái niệm bổ sung vào thuyết lượng tử, đã chịu ấn tượng sâu xa về lối tương đồng giữa việc tiếp cận nguyên tử và khái niệm bổ sung âm - dương trung hoa.

               Mười năm sau, năm 1947, khi được phong tước quý tộc nhờ những thành tựu khoa học, ông đã chọn quốc huy với biểu tượng “ âm – dương ” như là “ huy hiệu ” với phương châm : CONTRARIA SUNT COMPLEMENTA (Đối lập là Bổ sung) (3).                 Những nghiên cứu về sinh lý học thần kinh được thực hiện vào thời gian hai mươi lăm năm cuối đã khẳng định khái niệm bổ sung trong việc khảo sát não bộ. Năm 1981, Giải Nobel sinh lý học và y học đã vinh danh những khám phá của Bs Roger W.SPERRY ( sinh năm 1913 ở Hoa Kỳ ). Từ năm 1950, cùng với đội ngũ cộng sự, ông đã hoàn thành nhiều công trình chuyên môn về tính lưỡng cực của hai bán cầu não, trước tiên ở Đại học Chicago, tiếp theo ở Học viện Kỷ thuật bang California.              

                 Kết luận, là bán cầu não trái giữ chức năng phân biệt những sự việc, phân tích các tình huống có thể xảy ra, chi phối lý trí ( óc kỷ thuật, toán học, lý luận, tổ chức ).     

                 Bán cầu phải xem như nắm bắt sự kiện theo cách tổng hợp, phân giải chúng bằng trực giác, giải quyết theo lối tán mạn, triển khai cùng một lúc ( trí tổng hợp, tưởng tượng, khiếu nghệ thuật ).      

                 Tính lưỡng cực của hai bán cầu não gần đúng y tính song cực “ âm - dương ” trong Kinh Dịch. Tính Dương tương ứng phần trội tính khí nam giới trong bán cầu não trái. Tính Âm tương ứng sự trội tính khí nữ giới bên bán cầu phải.     

                  Việc phối hợp các đặc tính của hai bán cầu cho phép bộ não vận hành tối ưu. Cũng như thế sự điều hòa hai cực âm - dương nơi con người là biểu thị một nhân cách cân bằng, tinh thần ổn định.                

                 Cá thể “ bán cầu trái ” hay bản thể nhận thức đơn nhất và cá thể “ bán cầu phải ” hoặc bản thể cảm xúc toàn nhiên ( như người đàn ông thuần dương và người đàn bà thuần âm ) không quan niệm được với tư cách “ người tiến hóa và thăng hoa ” mà phải phối hợp và dung hòa hai thể con người bằng tính đồng nhất đơn thuần.        

                 Cá thể “ tự hình thành ” xuất hiện trong nhóm “ trái - phải ” hay nhóm “ phải - trái”  mà hai bán cầu tương tác có thể thay nhau tiếp sức di động có hiệu quả theo thời cơ và hoàn cảnh.              

                Thông thường, một trong hai bán cầu hành xử trước nhất bằng cách ức chế nhiều hay ít hoạt động của bán cầu kia, cùng lúc hoàn toàn dưới sự kiểm soát nhiều hay ít của bán cầu ấy ( như thế chứng tỏ sự phụ thuộc lẫn nhau ).   

                Một mặt chúng hợp tác nhau trong việc vận hành não bộ, mỗi bên theo khả năng của minh bổ sung cho bên kia.          

                Mặt khác, chúng tranh đua nhau, như bán cầu này muốn cản trở bán cầu kia hoạt động một mình.    

               Tuy nhiên, hoạt động ức chế và phụ trợ hổ tương này đảm bảo cho cá nhân có phương pháp ứng đáp một cách thích hợp trong mọi hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống hàng ngày bằng cách kích thích khả năng của một trong hai bán cầu hoặc bằng cách kết hợp các kỹ năng của cả hai.                

                Tương tự như Âm và ở Dương trong Kinh Dịch, hai bán cầu phải và trái não bộ xem như đối kháng nhưng bổ sung cho nhau.

              VI.-  NHẬN XÉT CHUNG          

                 Xuất phát từ Đạo giáo, khái niệm tính bổ sung bao hàm Vận hành và Bất động, Đi và Về, đồng thời bao gồm hai môi hình biến hóa : thuyết hệ thống và phái Descartes – Newton.        

                 Phương Tây luôn luôn có xu hướng loại trừ những gì đối lập và trái ngược nhau ( thuyết nhị nguyên phương tây tồn tại vững vàng trước Newton và Descartes và đã để lại dấu ấn bằng sự tăng trưởng kỷ nghệ ).       

                 Phương Đông không thoát khỏi “ xu hướng nhị nguyên của nó ”, nhưng với khái niệm tính bổ sung nghìn năm đã có từ xa xưa, tỏ ra tương đối khoan dung hơn phương Tây. Nơi dân tộc trung hoa, những tranh luận tôn giáo không bao giờ dẫn đến chiến tranh hay thảm sát tổng quát.        

                 Xã hội kỷ nghệ hiện đại, tin vào khả năng kiên trì nâng cao “ mức sống ”,  nhưng lại hạ dần “ phẩm chất đời sống ”. Khi người ta tuyên bố “ Thì giờ là vàng bạc ” nhưng thực hành theo khẩu hiệu ấy, người ta quên rằng “ Thời gian cũng là Đời Sống”. Và người ta không biết hay làm như không biết : “ Không gian cũng là Sinh Sống”. Trên Trái đất, mặt đất, ít hay nhiều cũng đã bị đầy ứ nhiều sản vật độc hại và chất thải nguyên tử. Trong Bầu trời, bên cạnh các phản lực siêu âm bay dạo suốt ngày và đêm mang theo nhiều đầu đạn hạt nhân, với “ chiến tranh các vì sao ” người ta lại còn muốn cho thêm những tên lửa liên lục địa hiệu năng cao hơn, và rất có thể, những phi thuyền vũ trụ con thoi có người ở.  

                 Vừa mới vượt qua nỗi sợ hải về Ma quỷ và e ngại Địa ngục, phải chăng thế giới kỷ nghệ hiện đại lại muốn đồng nhất hóa với Ma quỷ đễ tạo ra một địa ngục trần gian  hay sao ? Đó chính là nỗi sợ thường xuyên hiện diện, nỗi sợ này được liên kết với các ảo tưởng tri thức và quyền năng, theo những bài học cùa pháp sư Yaqui ( Carlos CASTANEDA, 1973, Gallimard, Paris ), cấu tạo nhữnh chướng ngại làm cản trở  sự thành đạt đi đến Nhận Thức và  Đời Sống toàn vẹn của mình.      

                Chỉ có khái niệm bổ sung cho phép tự giác nhanh chóng về tư duy sinh thái, tất yếu và cần thiết cho việc sống còn của mọi người và môi sinh của mình. Bản ngã chỉ nghĩ đến sự sống còn riêng tư và tất nhiên phá hủy môi trường xung quanh và tự hủy hoại chính mình, như thế giới hiện tại đã nhận thấy.       

                 Phuong châm trên  huy hiệu của Niels BOHR : CONTRARIA SUNT COMPLEMENTA (  Đối lập là bổ sung ) đáng phải được khắc ghi chữ bằng vàng trên mặt tiền của trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New-York. Các nước thành viên quên rằng họ là một thành phần của một “ hệ thống ” phụ thuộc vào nhau ; hiện nay họ không có các quan hệ khác ngoài kinh tế ( một số hội viên có vài mãnh văn hóa ) đặt nền tảng trên sự đa nghi và lực lượng tương quan ( kinh tế hay quân sự ).             

                Không chấp nhận khái niệm tính bổ sung, những chữ “ dân chủ ”,“ công bằng ” “ đoàn kết ”,” khoan dung ” v.v. trở thành vô hiệu lực. Trong một nước văn minh, các đảng phái khác nhau và hội đoàn hình thành một hệ thống không thể tách ra mà không gây thiệt hại cho quốc gia. Thế mà những bè phái chính trị và xã hội, dưới vỏ bọc khác nhau về giai cấp, bộ tộc, tôn giáo, ý thức hệ khác nhau, thay vì hợp tác có hiệu quả, lại phí mất thời gian, năng lực của mình cho việc xung đột, đối kháng vô ích, với mục đích loại trừ lẫn nhau. Tuy nhiên, thật dễ hiểu, khi mỗi công dân tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu chỉ có một giai cấp xã hội hay một đảng phái duy nhất nắm giử quyền lực, hay thêm nữa, tất cả những người di trú bị trục xuất ra ngoài biên giới.

              Trong các công xưởng, cơ quan nhà nước hoặc tư nhân, khái niệm bổ sung mang lại sự kết hợp chặt chẽ và một động cơ chính đáng để loại bỏ sự ngờ vực và những cạnh tranh đối với các cấp khác nhau ở tại cơ quan. Trong nhiều trường hợp, những văn tự “ thiếu thông tin”, hay “đụng chạm quyền hành ” chỉ là các hình thái tu từ dùng để che giấu những “xung đột cá nhân ”. 

              Về phương diện gia đình, khái niệm tính bổ sung được xác nhận là tối quan trọng vì cho phép các thành viên của “ hệ thống ” dễ dàng chấp nhận những bất đồng, phản biện và tính đôi chiều của chúng.  

               Về phần hôn nhân và đôi lứa cũng tương tự như vậy. Chữ Tình Yêu sẽ thành lạc điệu nếu khái niệm bổ sung không được nhận thức ngay. Chẳng may, đàn ông và đàn bà đã đối lập nhau, đương đầu nhau trước khi hình thành một lứa đôi, với ý tưởng : “ tìm ra được một tâm hồn tương ứng ”. Đấy là ảo tưởng lãng mạn, thường có một hoặc nhiều lần, trong lúc thiếu thời ; nhưng đến tuổi trưởng thành nghĩ đến, là tâm trạng một người chậm phát triển, quá tự mến, đi tìm hình bóng mình, nghĩa là một người giống hệt mình. Tình yêu chỉ đến khi người này chấp nhận cá tính của người kia (Tôi là thế đấy !) và ngược lại.                  

              Theo Edgar MORIN ( “Đi thẳng vào chủ đề ”, Seuil, Paris 1969 ), “ Một việc nan giải về tình yêu trong đôi lứa : tình yêu của một đôi trai gái, không phải là sự gặp gở của hai đơn vị tự túc mà là hai đơn vị phát triển chưa đầy đủ ”. Bởi “ hai đơn tính chưa đầy đủ ”, tác giả ngụ ý là hai bản thể mà hai đối cực nội tại ( có thể gọi là “ âm ” và “ dương ”, hay “ anima ” và “ animus ” theo thuật ngữ của C. G. JUNG ) chưa có hợp tác để đi đến “ điều hòa ”. Nhưng ai có thể tự hào là đã “ trưởng thành ”, nghĩa là tự túc và biết trách nhiệm trong thời điểm muốn kết hôn ? Thông thường, tuổi trưởng thành có thể đến sau, đi kèm với cuộc sống hôn nhân, gia đình, cũng như trong công tác nghề nghiệp và xã hội, thông qua trao đổi các mối quan hệ giữa các cá nhân và liên nhóm.          

              Trong các thế kỷ trước, sự hôn thú được bảo vệ nhờ những truyền thống tổ tiên, gia đình và tôn giáo. Hiện giờ, mối quan hệ tôn giáo chểnh mảng, tế bào gia đình mất tính vửng chắc. Những nhà khoa học về "Khoa nhân sinh" chỉ tìm cách biện bạch cho họ trong các vấn đề cư xử với người khác ( hay làm họ tự đỗ lổi ), bằng cách đối chọi các người trong “ hệ thống ” của chúng ( cá nhân, gia đình, xã hội ) và tìm ra cho họ những kẻ sẳn sàng chịu lổi (bouc émissaire). Hơn nữa, tình trạng trở nên phức tạp với chủ nghĩa nữ quyền làm khuynh đão cách xử sự nam giới và gây bất ổn thế quân bình vốn đã chông chênh trong cuộc hôn nhân.        

              Khái niệm bổ sung giúp cho hai đối tác suy tính đến các đặc thù đối lập và trái ngược của mỗi người cũng như là biết bao khoảng cách không thể vượt qua.

             “  Nhưng khi người ta đã ý thức được về khoảng cách vô hạn luôn luôn có giữa hai con người thì dù thế nào chăng nữa, một cuộc sống tuyệt vời “ sát cạnh nhau ” vẫn có thể trở thành hiện thực : hai đối tác phải có khả năng yêu thương cái khoảng cách đã phân chia chúng và nhờ đó mà người này nhận ra được người kia, hoàn hảo, nổi bật trên bầu trời ” ( R. M. RILKE, 1857-1926 ).   

               Trong trường hợp ngược lại, theo nhà thi sĩ Áo, “ Sự chia xẻ hoàn hảo  –  của Tình yêu giữa hai bản thể  –  không có thể thành tựu được, và mỗi khi mong tưởng vào sự thực hiện một phân chia như thế, thì đấy chỉ là một sự thỏa thuận (bên ngoài) chỉ làm thất vọng cho một hay cả hai đối tác về khả năng phát triển toàn vẹn của họ  ”.     

                Hôn nhân, giống như bất kỳ các mối quan hệ khác, được cảm nhận trong bối cảnh hiện tại như là một nghịch lý.            

               Cũng vậy, Cuộc sống, Thế giới, Quốc gia, Xã hội và ngay chính Cá nhân cũng không thoát khỏi những điều mâu thuẫn và vô số phản biện.       

               Chỉ bằng cách vượt qua các nghịch lý, chấp thuận ngầm khái niệm bổ sung này thì con người mới đạt đến sự thăng hoa ưu thế.         

               Vì không ai có thể thừa nhận Cuộc sống, Thế giới, và Người khác, mà  không nhận thức bản thân và xu hướng nhị nguyên nội tại.          


              VII.-  KẾT LUẬN   

               Nền văn minh phương tây năng động, đạt đến đỉnh cao Dương, bắt đầu trượt về cực Âm ( lời tiên đoán của André  MALRAUX cho thế kỷ XXI ), trong khi nền văn minh phương đông tĩnh lặng chạm đến tuyệt đỉnh Âm đã bắt đầu rẽ về giai đoạn Dương ( kỷ nguyên Meiji của Nhật bản, đến thời đại của Mao và Đặng ở Trung hoa ).     

               Chỉ thấy bề ngoài quá trình tiến hóa đối lập và trái ngược này, Rudyard KIPLING ( tiểu thuyết gia và thi sĩ Anh, sinh ở Bombay – 1865-1936 – người ca ngợi Vương quốc Anh ) đã không biết mình sai khi hô to rằng :  Đông và Tây không bao giờ gặp được nhau (Vì ông ta suy tưởng theo thuyết nhị nguyên !).

               Nhưng trong viễn cảnh cấu trúc bao quát toàn thế giới, Johann Wolfgang GOETHE ( văn sĩ nổi tiếng nhất của nước Đức, 1749-1832 ), gần một thế kỷ trước, đã rất có lý khi khẳng định tính bổ sung của hai nền văn minh :     

            “ Phương Đông và Phương Tây       
             Không thể bị phân chia nữa ”.        

             “ Orient und Occident      
            Sind nicht mehr zu trennen”.        
            ( trích dẫn bởi Richard WILHEIM, dịch giả người Đức về Kinh Dịch ).        

             Tuy nhiên, chính nhờ nhà Đông phương học người Mỹ của thế kỷ này mà có lời nhận xét rất hay này :               

             “ Một nền văn minh xứng đáng với danh hiệu của nó sẽ xuất hiện ngày mà Phương Tây hiểu Phương Đông, và Phương Đông hiểu Phương Tây, Nhân loại, qua thử thách đễ hình thành chỉ là duy nhất và cùng một gia đình, có thể tự giải thoát những nguyên tắc sai  lạc và tai hại đã gây nên ngày hôm nay các quốc tịch, chủng tộc, đẳng cấp và đa số tín ngưỡng. Lúc bấy giờ, người ta mới có thể nói là đã đạt đến một kỷ nguyên mới ” ( W. Y. Evans – Wentz ). 

 
             Le Mont – sur – Lausanne             
             Xuân 1985          
             L.Đ.T.
 

            Nguồn tham khảo :

            (1) Le Tao de la Physique, Edition Chou, Paris, 1979  et Le Temps du Changement, Editions du Rocher Monaco, 1983.
            (2) D'après Fritjof CAPRA, ouvrages cités.
            (3) D'après Fritjof CAPRA, ouvrages cités.   

    

            BỔ SUNG (Nguồn tham khảo : Phong tục Việt Nam "Bách khoa toàn thư"  Wikipedia)

            Thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một biểu thị luật mâu thuẫn trong thuyết âm dương, nhưng bổ xung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn. Hai thuyết đều được ứng dụng vào Kinh Dịch.

            Theo triết học cổ Trung Hoa, tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên tố cơ bản và luôn luôn trải qua năm trạng thái được gọi là : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim và Thủy. Năm trạng thái này, gọi là Ngũ hành, không phải là vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen trong tên gọi của chúng mà đúng hơn là cách quy ước của người Trung Hoa cổ đại để xem xét và diễn giải sự sinh hoá của vạn vật qua hai nguyên lý cơ bản (Sinh) còn gọi là Tương sinh và (Khắc) hay Tương khắc trong mối tương tác và quan hệ của chúng.

            Trong mối quan hệ Sinh thì Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

            Trong mối quan hệ Khắc thì Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. 
 
            Theo tính chất thì thuỷ là lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống.
            Hoả là lửa thì bùng cháy, bốc lên.
            Mộc là gỗ, là cây thì mọc lên cong hay thẳng.
            Kim là kim loại, thuận chiều hay đổi thay.
            Thổ là đất thì để trồng trọt, gây giống được. 

            Trên cơ sở Sinh và Khắc lại thêm hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ. Tương sinh, tương khắc, chế hoá, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá phức tạp của sự vật.
 
           Luật tương sinh : Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng. Đem ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau.

            Theo luật tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi. Thúc đẩy sự phát triển không bao giờ ngừng. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ vệ hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử. Ví dụ kim sinh thuỷ thì kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là con của Thuỷ.

            Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau.

            Luật tương khắc : Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau. Trong qui luật tương khắc thì mộc khắc thổ, thổ lại khắc thuỷ, thuỷ lại khắc hoả, hoả lại khắc kim, kim khắc mộc, và mộc khắc thổ và cứ như vậu lại tiếp diễn mái.

            Trong tình trạng bình thường, sự tưong khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở lại khác thường.

            Trong tương khắc, môĩ hành cũng lại có hai quan hệ : Giữa cái thắng nó và cái nó thắng. Ví dụ mộc thì nó khắc thổ, nhưng lại bị kim khắc nó.

             Hiện tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển.

             Luật chế hóa : Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau.
Lẽ tạo hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì không có đâu mà nảy nở ; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau.  

             Quy luật chế hoá ngũ hành là :
            - Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc.
            - Hoả khắc kim, kim sinh thuỷ, thuỷ khắc hoả.
            - Thổ khắc thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc khắc thổ.
            - Kim khắc mộc, mộc sinh hoả, hoả khắc kim.
            - Thuỷ khắc hoả, hoả sinh thổ, thổ khắc thuỷ.

            Luật chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành. Nó biểu thị sự cân bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Coi bảng dưới đây chúng ta thấy mỗi hành đều có mối liên hệ bốn mặt. Cái sinh ra nó, cái nó sinh ra, cái khắc nó và cái bị nó khắc.

            Ví dụ : Mộc khắc thổ nhưng thổ sinh kim, kim lại khắc mộc. Vậy như nếu mộc khắc thổ một cách quá đáng, thì con của thổ là kim tất nhiên nổi dậy khắc mộc kiểu như con báo thù cho mẹ. Nghĩa là bản thân cái bị có đầy đủ nhân tố chống lại cái khắc nó. Cho nên, mộc khắc thổ là để tạo nên tác dụng chế ức, mà duy trì sự cân bằng. Khắc và sinh đều cần thiết cho sự giữ gìn thế cân bằng trongt hiên nhiên.

            Cũng trong bảng quan hệ chế hoá, chúng ta thấy mộc sinh hoả ; nếu chỉ nhìn hành mộc không thôi, thì như mộc gánh trọng trách gây dựng cho con là hoả, nhưng nhờ có hoả mạnh, hạn chế bớt được sức của kim là một hành khắc mộc. Như vậy mộc sinh con là hoả, nhưng nhờ có con là hoả mạnh mà hạn chế bớt kim làm hại mộc do đó mộc giữ vững cương vị.

            Năm nguyên tố và các nguyên lý cơ bản của Ngũ hành đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực hoạt động của người Trung Hoa cũng như một số quốc gia và vùng lãnh thổ xung quanh như : Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore... từ thời cổ đại đến nay trong nhiều lĩnh vực như hôn nhân và gia đình, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, y học cổ truyền, quân sự v.v.