Van hóa Viêt Nam

                   Văn hóa Việt nam cũng như văn hóa Hàn quốc và Nhật bản cùng có một nền tảng văn minh Trung hoa.         

                    Đối chiếu với nền văn minh Trung hoa trong thập kỷ xâm chiếm (bốn lần liên tiếp cách khoảng không đều nhau, từ năm 111 trước công nguyên đến năm 1789), người Việt đã tiếp nhận nền tảng ba trào lưu tư tưởng cổ đại của Trung hoa : Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo. Hai trào lưu tư tưởng đầu được mang đến do việc xâm chiến của Trung hoa có xuất phát từ cội nguồn xa xưa đi ngược lên từ thế kỷ thứ IX trước Công nguyên : Kinh Dịch. Còn trào lưu tư tưởng cuối đến từ Ấn độ đi vòng quanh qua Trung hoa.        

 
                   Kinh Dịch  (Thế kỷ thứ IX trước Công nguyên)

                   Ở phương Tây 3'000 năm trước đây quyển sách này được gọi là : “ Sách đổi thay ”,  “ Sách chuyển hóa ”, “ Sách biến đổi ” hay “ Sách biến hóa ”, tất cả các tên sách đều nhấn mạnh về ý niệm Vận hành. Quả thật, chữ hán Yi có nghĩa là vận hành, thay đổi, di chuyển hay biến đổi tùy theo nhiều trường hợp và hoàn cảnh.  

                    Chữ “ king ” có nghĩa là sách thánh. Theo nghĩa đen nó là những sợi canh dệt ngang của tấm vải được đan kết lại bằng nhiều cách khác nhau để có thể tạo ra nhiều kiểu mẫu và hình dạng.

                    Đạo (Đường) của Kinh Dịch có biểu trưng là Âm và Dương, nó phản ánh cùng một lúc trật tự xã hội và trật tự của vũ trụ mà việc vận hành theo chu kỳ đươc cấu tạo bởi sự hòa hợp của hai hình thái xen kẻ và bổ sung cho nhau.          

                     Sự đối lập giữa Âm - Dương không phải là đối lập hoàn toàn, nhị nguyên như theo suy tưởng của phương Tây, giống như là sự đối lập của Tồn tại và Không Tồn tại, Thiện và Ác, Thượng Đế và Quỷ sứ… Đây là sự đối nghịch có tương quan, nhịp nhàng, xen kẻ của hai phương diện trái ngược (như ngày và đêm, mùa đông và mùa hè, trời và đất, đàn ông và đàn bà…), của hai thực thể được xem là đối kháng nhưng lại hỗ tương, là hai biểu hiện của cùng một thực tại, một con đường (Đạo).

                    Bằng cách dùng hai ký hiệu : một vạch ( - ) và hai vạch ( - - ), như trong tin học với con số 0 và số 1, từ thuở xa xưa Kinh Dịch đã dùng đến ngôn ngữ nhị nguyên để diễn đạt những tổ hợp của Dương ( - ) và Âm ( - - ) , và sáng tạo ra tổ hợp ba hào ( bát quái ) cùng với các quẻ sáu hào. Các hình tượng tập hợp này miêu tả được những biểu hiện của Lão Tử và được hình thành bởi những tương tác năng động của Âm và Dương mà nó phản ánh trong các hiện tượng tự nhiên hay vận mệnh của con người, như  kỳ hạn hoặc các giai đoạn của một sự đổi thay không ngừng.

                    Kiến thức của đạo Lão về tâm linh hay quy luật thay đổi này, được hình tượng hóa bằng 64 quẻ, cho phép có một cái nhìn đúng đắn với các sự kiện, phát hiện ra thời cơ hiện tại giữa những thế lực khác nhau, tương đồng hay đối kháng, để cho những lời khuyên thích đáng hay dùng những quyết định phù hợp. Cho nên người ta phân định những quy luật tương ứng và những lời bình giãi kèm theo cho mỗi biểu tượng được gắn liền với giá trị tiên liệu mà trong thực tế điều đó là thành quả của chuỗi kinh nghiệm có truyền thống nghìn năm.             

                    Mỗi một quẻ trong số 64 quẻ còn có thể biến hóa ra một quẻ khác do sự vận hành tương ứng của một hay nhiều vạch (Âm và Dương hay Dương), cho phép đạt đến số lượng: 4096 vị thế khác nhau (64 x 64 = 4096) được cho là ứng dụng với tất cả mọi giải pháp có thể của một hành vi con người trong bối cảnh đặc thù.        

                   (Trong vận dụng khả năng phản ứng của con người, càng nhiều lựa chọn khác nhau thì tự do phản kháng và hành động càng lớn, khả năng quyết định và tiên liệu lại càng phức tạp).                  
                    Kinh Dịch được đặt trên nền tảng triết lý, phép biện chứng nội tại (tính đối ngẫu tự nhiên của hai thực thể đối kháng và hỗ tương), không chỉ đơn thuần là sách bói toán mà đồng thời còn để giảng dạy giáo lý, một hệ thống triết lý nảy ra những ứng dụng về tâm lý và xã hội (hướng dẫn và trị liệu).   

                    Sử gia Trung hoa Tư mã Thiên ( thế kỷ thứ II trước Công nguyên ), người viết tiểu sử về Khổng Tử và Lão Tử, đã kể lại rằng : Khổng Tử đã miệt mài tham khảo và làm hao mòn ba quyển sách chép tay của Kinh Dịch còn Lão Tử  thường xuyên dẫn chứng bằng Kinh Dịch.    

 
                    Khổng Tử  (551 – 479  trước Công nguyên)

                   Khởi đầu của cuộc xâm chiếm lần thứ nhất, vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên, Người Trung hoa đã đưa vào nước Giao-Chỉ (tên của Việt Nam trước đây) những thổ ngữ và một số phong tục tập quán của mình để tạo điều kiện dễ dàng cho việc quan hệ với xứ sở được gọi là “ thái bình ”. Nhưng chỉ bắt đầu ở thế kỷ thứ III sau Công nguyên, những bài giảng dạy của Khổng giáo và Lão giáo mới được loan truyền.

                  Khổng Tử vận dụng di sản tâm linh của thời Cổ Đại. Học thuyết của ông có nền tảng là hoàn thiện đạo đức con người và những quy tắc cai trị người dân thông qua nguyên tắc cơ bản “ Lễ ”. Thông thường chữ này được dịch là nghi thức, nghi lễ, lịch sự hay tương hợp, những từ ngữ bao hàm sự chuẩn bị bên trong cũng như phương thức ứng xử bên ngoài. Khổng Tử lặp đi lặp lại với các đệ tử rằng : “ Lễ ” đích thực đến từ tâm. Trong phương pháp giáo dục, ông thừa nhận một số giá trị của kiến thức trí tuệ nếu nó không bị mất quân bình do tình cảm chi phối, và đây là điều chính ông tin vào nền giáo dục của ” Lễ ” để hiện thực hóa sự quân bình trên. “ Chúng ta có thể đọc trong “ Luận ngữ ”, một tác phẩm cổ điển của Khổng giáo : “ Học vấn uyên thâm của con người phải nằm trong khuôn phép thực thi bởi “ Lễ ”. Một người được chuẩn bị như vậy để đương đầu với cuộc sống thì  phải trung thành với những nguyên tắc trên, ngay giữa những lúc khó khăn lớn lao nhất hay khi đối diện với những ham muốn cao độ ”. Một  người như thế mà quan tâm đến việc trân trọng cội nguồn thì được xem như là một nhân đức lỗi lạc, vì nó giúp cho sự thấu hiểu hoàn hảo về Đạo. Sự tôn kính và thờ phượng cội nguồn, những bậc tiền bối dẫn đến việc thờ cúng Ông bà Tổ tiên được thể hiện bằng chữ “ Hiếu” lòng hiếu thảo.      

                   Mô hình lý tưởng của học trò Khổng Tử là người “ quân tử ” (dịch theo tự nghĩa là  “ quý tộc ”), người ta có thể tạm so sánh với một chữ tiếng Anh : “ người thượng lưu ”. Trước Khổng Tử, từ ngữ này có nghĩa như là “ nhà quý tộc ”, chỉ rỏ một người có dòng dõi tốt, mà ông bà tổ tiên đã được giáo huấn trên mức bình thường, và nó còn giữ được đẳng cấp dù đôi lúc có điều tai tiếng. Theo quan điểm này, một người không có dòng dõi tốt thì không thể mơ ước danh hiệu quý tộc. Khổng Tử  tuyên bố ngược lại rằng : bất cứ người nào cũng có thể được gọi là người “ quân tử ” hay “ nhà quý tộc ”  nếu cách cư xử của người đó là cao thượng, không vụ lợi, đúng đắn và khoan dung. Mặt khác, ông cho là không ai có thể đạt danh hiệu này mà chỉ dựa vào tiêu chuẩn dòng họ sinh trưởng.  Người “quân tử ” hay “ nhà quý tộc ” đối với ông chỉ là vấn đề cá tính và cách hành xử. Nguyên tắc bình đẳng xã hội này có giá trị cũng như bình đẳng nhân loại trên thế giới : “ Tất cả mọi người, trong bốn bể, đều là anh em một nhà ” (Tứ hải giai huynh đệ), ông đã nói vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên.

                  Chủ thuyết của Khổng Tử là khởi đầu từ sự hiểu biết bản chất con người, nhắm đến sự hạnh phúc có thể đạt được ở trần thế dành cho mọi người. Bài học thiết thực của ông một mặt là hiểu biết những quy tắc đạo đức cá nhân và mặt khác là biết quản lý vận mệnh để có thể mang lại cho mỗi con người sự sung túc, thoải mái nhiều nhất và khả năng lớn nhất hoàn thiện bản thân. Sự phát triển tối ưu này chỉ có thể đạt được bởi “ thể hiện nhân tính trong hành động ”, bởi việc tìm kiếm sự cân bằng hay đúng hơn là hài hòa với môi trường chung quanh (“ Học thuyết Trung Dung”, một trong bốn tác phẩm cổ điển lớn của Khổng giáo ).

                                
                  Lão Tử  ( 570 – 490  trước Công nguyên )

               Sinh cùng thời với Khổng Tử, Lão Tử tuyên bố cũng thừa hưởng di sản tâm linh của thời cổ đại, nhưng được thấm nhuần cận kề hơn với cội nguồn Đạo của Kinh Dịch. Ông được xem là đối thủ của Khổng Tử, bởi vì ông có một quan điểm hoàn toàn đối lập. Khổng Tử hướng đến thực thể xã hội, Lão Tử lại nhắm đến cá thể. Khổng Tử tin vào sự hiểu biết và rèn luyện, Lão Tử lại nghi ngờ về lợi ích của giáo dục lẫn khoa học, và đi tìm sự thoải mái, sung túc trong sự hài hòa của tự nhiên, bằng cách quay lưng lại với thiên hạ. Khổng Tử, ông ta thì đi tìm hạnh phúc trong sự hòa đồng với tự nhiên bằng cách dấn thân vào trần thế.   

                 Nếu phong cách của Khổng Tử  xuất hiện ở đạo đức học và duy lý chủ nghĩa thì tư thế của Lão Tử tiếp giáp với tâm linh, thậm chí là thần bí. Sự đối kháng này được thể hiện trong một câu chuyện khá thú vị mà ở đó sử gia trung hoa Tư mã Thiên kể về việc gặp gở của hai nhà hiền triết :              
                  Khổng Tử có tham vọng ít ra là truyền tải những bài học của các bậc Thánh nhân tiền bối nên đi đến xứ Châu để hỏi thăm Lão Tử về khái niệm của “ Lễ ” hay “ nghi lễ ” (sự tương thích, ứng xử để mà theo) :               
               “ Xương cốt của những vị mà ông nói đến thì hiện nay đã thành tro bụi, Lão Tử đáp, chỉ còn lại cho chúng ta những lời nói của họ.  
                  Một khi bậc hiền nhân đắc thời thì lên xe, còn khi không thuận lợi ông ta phiêu lưu không chủ định.  
                  Tôi đã nghe nói rằng một lái buôn khôn khéo thì giấu kín sự giàu sang của mình, một người có đức hạnh thì không thích lộ ra bề ngoài vẻ khôn ngoan.            
                   Ông hãy gạt bỏ những tham vọng, ước muốn, những thái độ quy định không ích gì cho ông cả. Tóm lại, quan điểm của tôi là thế đấy ”.         

                    Với tinh thần tự do và khiêm tốn, hiển nhiên các học trò của Lão Tử phải cáo giác lại mọi thể chế nhân bản là có hại về mặt biểu hiện bản tính thật của con người. Chúng lên án nguyên nhân sự suy đồi của con người cho đến những bài học đạo đức giả, và loại bỏ tất cả những hiểu biết và nghi lễ của đạo Khổng bị cho là độc hại. Những người theo đạo Lão ca tụng sự trở lại của trạng thái mộc mạc sơ khai mà lúc đó cái tự nhiên nguyên thủy của con người chưa mất đi sắc lóng lánh do việc tiếp xúc trần thế, và không bị ràng buộc bởi những quy luật xã hội. Trạng thái “ trở về nguồn ” được gọi là  “ tĩnh lặng ” . Và sự “ tĩnh lặng ” chỉ có thể đạt được bởi “ vô vi ”. Theo tự nghĩa, “ vô ” biểu thị sự đối kháng là không, và “ vi ” nghĩa là hành động.          

                   Trong Tam tự Kinh, sách cổ điển của Lão giáo, truyền đạt học thuyết bằng những câu châm ngôn, Lão tử nói :          

                “ Không hành động, mọi việc đều hoàn tất,              
                   Ai chinh phục trần gian, thường chỉ ngồi yên.       
                   Khi người bị ép phải hành động,               
                   Trần thế đã vượt đi quá tầm ”.  

                  Sư phụ còn tiếp :      

                 “ Ai sở hữu nhiều nhất     
                   Sẽ chịu mất nặng nhất, 
                   Nhưng người bằng lòng số phận thì không tổn thương.      
                   Người biết kềm chế sở thích riêng,            
                   Sẽ tồn tại ”.      

                   Nghĩa của “ vô vi ” được hé lộ trong những châm ngôn này :  

                  “ Sinh ra, nuôi dưỡng,     
                   Không muốn bắt lệ thuộc.           
                   Hành động mà không mong kết quả.
                   Cầm quyền mà không phải cai trị            
                   Đạo đức thần bí là thế đấy ”.      


                   Đến năm 1912, biểu tượng của “ vô vi ” được thấy gắn phía trên ngai hoàng đế, như là dấu chỉ của nguyên tắc tối thượng trong nghệ thuật cầm quyền.         

                    Một quan niệm khác của Lão giáo mà khó lòng giải thích cho các nước phương Tây là khái niệm “ Khoảng trống ”. Điều này được giải trình ở Tam tự Kinh :           

                 “ Ba chục cây tăm hợp lại một bầu ở giửa,              
                  Nhưng khoảng trống hữu dụng làm bánh xe.         
                  Đất sét nhào nặn tạo thành binh bát,         
                  Nhưng khoảng trống là nơi được xử dụng.             
                  Mái nhà, tường vách, cửa lớn và nhỏ,       
                  Khoảng trống làm thành nhà để trú ngụ ”.             

                  Những điển hình cụ thể dẫn đến nhũng lời khuyên khó hiểu, được trình bày trong một đoạn thơ khác :            

               “ Bạn mong đóng mở cửa Trời ?  
                  Phải là bạn có thể biết đón nhận.               
                  Bạn muốn thấy tất biết cả ?         
                  Bạn nên đễ trống tâm thần ”.      

             

                  Trang tử  ( 369 – 286  trước Công nguyên )            

                   Đệ tử nổi tiếng của Lão Tử, thích diễn đạt bằng những ngụ ngôn hơn là với châm ngôn, đã thuật lại như thế nào mà tình cờ gặp gỡ với tư tưởng của sư phụ :  

                 Trang Tử đi dạo trong công viên Tiêu linh lúc ấy thấy một con chim với đôi cánh lớn bay ngang qua sát trước mặt và ẩn trong bụi cây dẻ. Ông bèn tiến lại gần với cái nỏ trong tay. Ở tư thế mai phục, bấy giờ ông thấy một con ve say mê kêu ra rã trên cành cây bóng rợp. Một con bọ ngựa nhà trời giương càng tấn công nó, trong khi đó con chim to lại sà xuống bắt cả hai, Trang Tử nhân cơ hội bắn hạ nó. “ Than ôi ! gây hại cho nhau, chúng tự chuốc lấy tai họa ! ”. Bất chợt người bảo vệ đến, bám theo thóa mạ ông. 

                  Trở về tư gia, Trang Tử ở luôn ba tháng không ra khỏi nhà. Học trò Liệt Tử hỏi ông về việc ẩn cư này, ông đáp : “ Thời gian này tôi đã chú tâm chứng giải cho mình là để sống trường thọ thì không nên gây chiến với người khác. Trong lúc mãi theo đam mê, người ta quên đi cái bản chất của mình. Luôn luôn chiến đấu rồi cuối cùng cũng đến lượt mình kết thúc bị thua. Tôi đã học được một bài học của con chim lớn và người bảo vệ săn bắn ở Tiêu linh ”.              

                   Vì thế Trang Tử thích giảng dạy bằng phương pháp gián tiếp như là đưa ra các ví dụ hay kể những câu chuyện ngắn đã thông qua bao thế kỷ. Đây là một trong số đó :       

                  Khang Tử nhận luyện tập một con gà đá cho vua Siêu xứ Trụ. Mười ngày đầu, người ta hỏi ông con gà đã sẵn sàng chưa. “ Không, ông đáp, con vật đang còn giương oai và thở ồn ào ”.                   Mười ngày sau, được hỏi lần nữa, ông đáp : “ Chưa được, con vật còn phản động trước bốn con khác về tiếng vọng hay hình bóng ”. 
                 Mười ngày sau nữa, ông trả lời : “ Vẫn chưa, cái nhìn còn sáng và hơi thở còn hỗn hễn ”.                  Cuối cùng, mười ngày sau, ông tuyên bố : “ Con gà đá đã gần như sẵn sàng. Nó như vô cảm với tiếng gáy của con gà khác. Thấy nó người ta nói là con gà gỗ. Thể lực nó hoàn hảo. Không con gà nào dám đấu đầu với nó. Mọi con gà đều quay lưng và trốn chạy trước nó ”.

                Sau giai thoại mang tính chất tâm lý này còn có một giai thoại khác có tính triết học :                 Cố chấp giữ lấy nhận thức của một sự việc mà không biết là việc này không khác những việc kia, điều đó nhắc lại câu chuyện có tên là : “ Số ba, buổi sáng ” :      
                 Một người nuôi khỉ, phân chia quả sồi cho bầy khỉ, nói với chúng : ” Tao sẽ cho tụi bây ba quả sồi buổi sáng và bốn quả buổi tối. Tụi bây nghĩ gì về điều này ? “. Cả bầy khỉ đều nỗi giận. “ Tao sẽ cho bọn bây bốn quả buổi sáng và ba buổi chiều. Bọn bây nghĩ sao ? “. Cả đàn khỉ rất vui mừng. 
                 Thực tế là tổng số quả sồi không thay đổi, nhưng lời đề nghị đầu gây ra giận dữ và lời thứ hai thì vui mừng. Người nuôi khỉ đã biết thích nghi với bản tính của bầy khỉ. Chính vì thế mà hiền nhân định liệu sự khẳng định hay phủ định bằng cách tin cậy vào đạo Lão, chấp nhận cách ứng xử kép : Xác định hay bác bỏ cùng là một quan niệm chân thực tùy theo tình huống và những hoàn cảnh mà sự kiện được đặt trong tình huống đó.        

                   Dịch giả về giai thoại trung hoa gọi điều đó là “ hiệu lực hai chiều “. Phần tôi, tôi thích nói về  “ phép biến đổi biện chứng “ hay nôm na hơn là “ cơ trí minh mẫn ” .
 

                    Mạnh Tử  ( 372 – 289  trước Công nguyên )

                   Đồ đệ của Khổng Tử, cùng thời với Trang Tử, Mạnh Tử dự định kết hợp chủ nghĩa cá thể của Lão Tử và đạo đức đạo Khổng. Cũng như sư phụ, việc giảng dạy của ông được đặt trên nền tảng văn hóa đạo đức đối với mọi tầng lớp xã hội. Nhưng ông lại đặt nguyên tắc “ Nhân ” hay nhân đức (nhân đạo) trước nguyên tắc “ Lể ”. Ký hiệu “ Nhân “, được tạo nên bởi chữ “ hai ” và chữ “ người ”, bao hàm ý niệm : sự hợp tác giữa hai cá tính cũng như là khái niệm hỗ tương ở trong câu châm ngôn nổi tiếng của Khổng Tử : “ Đừng làm cho người khác cái điều chi mà anh không thích người ta làm cho mình ” (Luận Ngữ). Và trong một câu khác : “ Tất cả các người trong bốn bể đều là anh em một nhà “ (Tứ Thư). Mạnh Tử vận dụng lại khái niệm “ anh em toàn cầu ” đã được triển khai bởi sư phụ, đồng thời nhấn mạnh về “ Nhân ”:  

                   Chữ “ Nhân ”: là tâm của con người : (trong ngôn ngử trung hoa chữ “ tim ” : trở về bản chất nguyên thủy. Ký hiệu “ Mệnh ”, biểu hiện điều đó, được tạo nên bằng hai yếu tố : “ tâm ” và “ sinh ”).         
                  “ Người có nhân cách là người không đánh mất tâm hồn trẻ thơ “…                             
                  “ Người dò tìm đáy lòng mình thì biết “ Mệnh ” mình. Kẻ biết “ Mệnh ” của mình thì biết Trời. Bảo quản tâm hồn, duy trì “ Mệnh ” mình, đó là phục vụ Trời (Đạo, theo Lão tử) ”          
                 “ Đạo, của tất cả các học thuyết, chỉ là sự tìm kiếm tâm hồn nguyên thủy bị thất lạc ”, sư phụ lưu ý.

                   Mạnh Tử liên hợp “ Nhân ” với nguyên tắc cai trị dân chúng. Như vậy : “ Nhân là tâm của con người, công lý là đạo của con người ” :   
                   “  Kiệt và Trụ – hai vị vua thời Cổ Đại, bị biệt xứ vì sự chuyên quyền và tàn bạo của chúng –  mất vương quyền vì đã đánh mất lòng yêu mến của người dân. Những ai làm mất lòng dân thì mất luôn cái tâm của chúng. Để giử vương quyền, con đường đó là : lòng yêu thương của người dân. Để giử được cái tâm, con đường đó là : làm điều dân thương và không làm điều dân ghét ” (Tứ Thư).                 
                    Như vậy, ngược lại với Khổng Tử giảng dạy tính vâng lời và phục tùng tuyệt đối các bậc bề trên (Quân - Sư - Phụ), Mạnh Tử thiết lập những quan hệ cấp bậc này bằng cách khẳng định rằng “ chúng chỉ có giá trị nếu vua hành xử đúng vai vua, thầy đúng vị trí thầy, cha mẹ tròn bổn phận cha mẹ. Khi Nhà Vua bị thất sủng thì Trời rút lại việc ủy quyền và người dân có thể dùng quyền nổi dậy. Vì người dân quan trọng hơn vua chúa “

                      Dân trước tiên                      (Dân vi quý  
                      Nhà Nước đến sau                Xã tắc thứ chi
                      Nhà Vua không đáng kể.      Quân vi khinh).            

                   Thể thức này của Mạnh Tử được xem như có tính cách cách mạng trong thời kỳ mạn danh là “ phong kiến ”.              

                    Mặt khác, lý luận về bản chất nguyên thủy con người của ông đã gây nhiều tranh luận trong nội bộ cũng như phong trào theo đạo Khổng. Quả thật, với Mạnh Tử  “Con người trước tiên là tốt, nó mang bản tính trời cho” (Tứ Thư).  

                    Nói một cách khác, con người bẫm sinh là tốt. Nhưng chỉ vì các tác động bên trong hay bên ngoài mà thành xấu. Cuộc tranh luận về đề tài này giữa Sư phụ và triết gia Cáo Tử vẫn còn vang danh :         

                     Cáo Tử tuyên bố rằng : “ Bản tính của chúng ta như chỗ nước xoáy. Nếu khơi rãnh hướng đông thì nước chảy về phía đông. Nếu khơi rãnh hướng tây thì nước chảy về phía tây. Tính khí con người không phân định được giữa cái thiện và cái ác, cũng như nước không nhận định rõ ràng sự khác nhau giữa Đông và Tây “.              
                  Mạnh Tử vặn lại : “ Chính xác là nước sẽ chảy không phân biệt về Đông hay Tây, nhưng nó có thể chảy ngược lên trên hay đổ xuống không ? Bản tính con người vốn là thiện như nước chảy vào chỗ trũng. Không có người chỉ hướng về cái thiện, cũng như không có dòng nước chỉ chảy xuống thấp. Thế mà khi đâp mạnh tay xuống nước ông có thể làm bắn nước lên cao quá trán, và nếu đào kênh hay mương dẫn nước ông có thể đưa nước lên đỉnh núi. Vậy là không phải bản chất của nước chảy được như thế, mà chính là một lực lượng bên ngoài tác động vào nó. Cũng vậy, khi các lực lượng bên ngoài thúc ép những người làm điều xấu thì chính bản tính của họ bị áp chế “ (Mạnh Tử, IV, 1).   

                    Để bảo tồn cái thiện bẩm sinh này, con người phải vun xới, chăm sóc chu đáo và theo dõi thường xuyên. Như loại ngũ cốc phải được tưới, nhận ánh sáng mặt trời, được bón phân cho đến độ chín. Vậy chức năng chính của giáo dục là phát triển những tình cảm tốt mà vốn sẵn có nơi chúng ta. Để đạt được như vậy, chúng ta phải thể hiện nhiều sự kiên trì, vì ngay như cây lúa không lớn lên trong một ngày và cần một khoảng thời gian để chín, con người thì chậm phát triển. Muốn đẩy nhanh sự phát triển trái lẽ thường thì cũng có hại như là không quan tâm đến.    

                  “  Lúc đi thăm đồng, Mạnh Tử kể, người xứ Sung buồn lòng vì giống lúa non không mọc lên cao đúng tầm. Thế là ông ta kéo những đọt lúa lên giúp nó tăng trưởng. Khi trở về nhà người dính đầy cọng lúa và cỏ dại, ông ta nói với các con : “ Cha không thể làm hơn nữa, cha đã giúp lúa mọc nhanh ”. Đứa con chạy nhanh ra đồng để xem sự thể và thấy là cả cánh đồng đã khô héo ! ”.         
                   Từ đó Mạnh Tử rút ra bài học luân lý như sau: “Có một ít người ở đời này không giúp đỡ cây lúa tăng trưởng. Những người cho việc giáo dục tâm trí là vô ích thì cũng như những người phó mặc việc nhổ cỏ dại, trong khi đó những người hỗ trợ nâng cao tâm trí (một cách nhân tạo) thì họ chỉ thu hoạch bằng rễ cây. Không những không đem lại lợi lộc gì mà còn làm hại ” ( Mạnh Tử II, I ).                

                    Cho là mọi người sinh ra đều bản tính tốt như nhau, nhưng tại sao một số lại trở thành xấu ? Mạnh Tử trả lời câu hỏi này bằng một lý luận khác : so sánh con người như những hạt giống được gieo trên nhiều mảnh đất khác nhau. Hạt nào rơi vào đất màu mỡ, ẩm ướt thì mang lại mùa bội thu. Trong khi những hạt rơi trên đất khô cằn, sỏi đá thì không cho gì nhiều. Cũng cùng một cách nhưng tùy theo môi trường, người này phát triển, người kia chậm lại. Cho nên phải xem xét môi trường xunh quanh mà con người sống trong đó. “  Nếu ông muốn một đứa bé giải bày bằng thổ ngữ Ts’i, Mạnh Tử nói, ông chỉ gởi bé đến xứ Ts’i, ở đó nó học tiếng này với những người phụ cận. Cũng cách ấy nếu ông muốn cải thiện nhân cách thì nên giao du với những người đức hạnh ” (Mạnh Tử, III, 2).            


                  Tuân Tử (Siun Tseu, 340 – 298  trước Công nguyên)

                  Một học trò khác của Khổng Tử, Tuân Tử, đề xuất một luận thuyết ngược lại luận thuyết đương thời của Mạnh Tử, cả hai đều tán dương “ Lể ” ( nghi lể, nghi thức, thích đáng ).


                  Tuân Tử mở đầu bằng chương sách nổi tiếng nhan đề : “ Bản tính con người là xấu ” : “ Bản chất nguyên thủy của con người là xấu xa : điều mà làm nó tốt là do kết quả hấp thụ nền giáo dục. Con người được sinh ra với tính hám lợi : nếu để chúng ở xu hướng tự nhiên, chúng trở thành tham lam, sinh sự và tỏ ra thiếu tôn trọng, thanh liêm đối với những người khác. Từ lúc sinh ra, con người đã đố kỵ và ganh ghét lẫn nhau : nếu chúng thoải mái biểu lộ những khuynh hướng này, chúng trở thành hèn hạ, tàn bạo và hoàn toàn thiếu tính trung thực, lòng tin. Ngay thuở sơ sinh, con người đã thèm những cảm giác, nhục dục vì vẻ đẹp hình dáng, màu sắc và âm thanh : nếu để những ham muốn chế ngự thì nó trở nên phóng đãng, bừa bãi và không có tôn trọng với “ Lễ ” lẫn vô đạo đức.      
                   Bấy giờ hiển nhiên nó thuận theo bản chất nguyên thủy của con người và thả lỏng cho những thôi thúc bản năng, tất nhiên dẫn đến sự tranh đua, tham tàn, vô chính phủ và thúc đẩy nhân loại quay lại thảm trạng gian ác.        

                   Như vậy chủ yếu là con người được biến đổi do những “ người thầy ”, luật lệ và được hướng dẫn bởi “ Lể ” và công lý. Chính như thế họ trở nên lịch sự, vị tha và chỉ trong điều kiện này người ta mới có thể cai trị bằng luật pháp. 

                 “ Người Thầy ”, đặc ở vị trí danh dự hàng đầu, được đề cao lên tận mây theo Tuân Tử :
                 “ Một người mà không biết thầy, không điều giáo huấn (nguyên tắc), nếu nó thông minh thì sẽ không tránh khỏi trở thành tên ăn cướp. Nếu nó gan dạ thì sẽ thành kẻ bất lương. Nếu nó có khả năng thì sẽ thành kẻ xúi giục làm loạn. Nếu là nhà khoa học, nó chỉ lưu tâm đến những hiện tượng khác thường. Nếu là nhà lý luận, nó chỉ phát biểu những lý lẽ phi lý.     
                   Nhưng nếu người này có một ông Thầy và những lời dạy bảo, nếu nó thông minh lúc đó nó sẽ nhanh chóng trở thành người trí thức (người có văn hóa), Nếu dũng cảm nó sẽ được tôn trọng. Nếu có khả năng nó sẽ thực hiện thành công mọi việc. Nếu là nhà khoa học, nó sẽ điều hành nhanh những nghiên cứu đem lại hiệu quả. Nếu là nhà lý luận, nó sẽ dễ dàng giải quyết mọi vấn đề.  

                   Như vậy một ông Thầy và các lời giáo huấn hợp thành nhiều kho tàng quý báu nhất mà một người có thể sở hữu. Thiếu Thầy và những lời dạy bảo là điều bất hạnh nhất. Người mà không biết Thầy không biết lời giáo huấn là khích động bản tính gốc của nó. Người có Thầy và những lời dạy bảo là vun đắp nhân phẩm lên tới điểm cao nhất ”.          

                   Khổng Tử khẳng định : “ Con người có thể khuếch trương Đạo, nhưng Đạo không thể làm cho con người lớn hơn ” (Luận ngữ, XV, 28). Tuân Tử, ngược lại, không để cho con người có sáng kiến, có tự do suy tưởng. Ông muốn đặt một nền tảng đạo đức xác định rõ ràng bằng cách bắc buộc mỗi thế hệ tuân theo mù quáng những lời dạy của những tác giả cổ điển như là các bình giải của các bậc Hiền nhân : “ Bỏ Đạo của Hiền nhân và theo Đạo của chính mình, Tuân Tử nói, cũng như là đòi hỏi một người mù phân biệt các màu sắc ”.

                  Luận thuyết của Tuân Tử hoàn toàn đối lập với Mạnh Tử chủ trương rằng bản tính con người là xấu và tính thiện chỉ có được thông qua giáo dục và hành động phù hợp với hoàn cảnh của mỗi người. Ông cho rằng hình thức chính phủ hoàn hảo nhất là dựa trên sự kiểm soát độc đoán, và rằng đạo đức là không liên quan tới việc cai trị một cách hiệu quả.

                  Chủ trương cai trị không dựa trên nhân tâm ấy đã được hai đồ đệ của Tuân Tử - Hàn Phi  và Lý Tư - áp dụng trong việc giúp Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất Trung Quốc (221 trước CN).
                  Lúc đầu chính sách này phát huy có phần được kết quả, nhưng sau đó cũng vì pháp luật của nhà Tần hà khắc quá dẫn đến các cuộc nổi dậy của con cháu của các chư hầu cũ, kết thúc là nhà Tần bị sụp đổ 15 năm sau (206 trước CN).                 

                  Thích Ca Mâu Ni ( 624 – 544 tước Công nguyên ) tên thật là Siddhartha Gautama.  

                  Đạo Phật đến từ Ấn độ thâm nhập vào Giao Chỉ từ phía nam ngay từ thế kỷ thứ nhất hay thứ hai của kỷ nguyên Kitô giáo. Nơi ngã tư của hai đất nước và hai nền văn hóa ( Ấn Độ và Trung hoa ), những tu sĩ khu vực này đều thạo tiếng trung hoa cũng như tiếng phạn, dùng để giao dịch với các khách lữ hành Trung và Ấn hoặc cùng nhau hợp tác biên soạn những bài kinh.    

                  Đến năm 580, là lúc ảnh hưởng phật giáo Ấn độ chiếm ưu thế. Sau thời gian này, đạo Phật được du nhập do Bồ Đề Đạt Ma ở Trung hoa vào khoảng năm 520 – 525, gọi là phật giáo Trung hoa ( “ Chân ”, “ Thiền tông ” hay “ Thiền ” ) nối tiếp trào lưu lúc đầu vẩn còn tồn tại.  

                 Cũng như Khổng Tử, Đức Phật dạy lòng từ bi, bình đẳng nhân loại, yêu thương toàn thể, bao trùm cả loài động vật. Nhưng với Đức Phật, ngược lại với tín đồ đạo Khổng, bản chất nguyên thủy là trung tính ; chính việc tiếp nối nhiều đời xuyên qua những sự việc và hành động khác nhau đã tạo nên các giả hợpngộ nhận, do việc hợp cách hóa của chúng và luật nhân quả mà sinh ra điều các phật tử gọi là  “nghiệp chướng”. Thoát khỏi nghiệp chướng, nói cách khác chỉ là vượt qua cái “ Tôi hiện sinh ” để tìm gặp lại cái “ Tôi nguyên thủy ” tức là bản tính gốc hay là “Phật tính” . Đa số người bám giử lấy cái “ Tôi hiện hữu ” của mình bởi vì họ nhầm lẫn với cái “ Tôi nguyên thủy ”.

               Nguyên lý “ vô ngã ” chứng thực rằng cái “ Tôi hiện sinh ”, gây ra nghiệp  chướng, không tồn tại riêng biệt. Nó chỉ là một “ kết cấu ” được tạo ra bởi nhiều yếu tố  không thuộc về nó, chúng chỉ giả tạm, phụ thuộc vào nhiều bản thể hay khách thể bên ngoài. Nếu người ta lấy ra ngoài cái Tôi những yếu tố của nó : hình hài vật chất, cảm giác, tri giác, biểu tượng và trạng thái ý thức thì nó còn lại gì ? Không còn gì cả. Không một “ tập hợp ” ( ngũ giới ) nào tồn tại bởi chính nó. Chúng lệ thuộc hà khắc vào các giác quan, nghĩa là thể xác. Những cảm xúc, tri giác chỉ được hiện hữu bằng hoạt động của các giác quan và vật thể tiếp giáp chúng. Những biểu tượng tinh thần tùy thuộc vào nhận thức và cảm tính mà chúng cung ứng cho trí óc các dữ liệu, dựa vào đó mà hành xử. “ Tri – kiến ” do sự hoạt động và tương tác của ba yếu tố trên.

               Nhiều so sánh tượng hình để giúp hiểu khái niệm khó khăn này : “ Cũng như chúng ta chỉ định từ ngữ xe chở, chỉ được hiện hữu từng thành phần nhờ : trục xe, bánh xe, cán xe, v.v…, hoặc danh từ nhà ở, một chỉ định đơn giản cho tập hợp : mái nhà, tường nhà, cửa sổ, v.v…, và nó không có hiện hữu thực thể nhà ở, cũng như phần tử mà chúng ta gọi là hữu thể, cá thể hay cái tôi, thì chẳng là gì cả, mà chỉ là một tổng hợp thay đổi của những hiện tượng vật lý, tâm lý của ngũ uẩn và không có tồn tại đặc biệt ”.                

               Đạo Phật không phủ nhận sự tồn tại một cá tính, một nhân cách riêng trong mỗi bản thể con người ; điều mà Đạo phủ nhận đó là : khẳng định một “cái Tôi bất biến và vĩnh cửu ”. Nhân cách của mỗi con người được hiện hình bởi một số thành phần tâm linh có nguồn gốc đa dạng ; việc phân biệt những nhân cách khác nhau, chính là tỷ lệ, định lượng giữa các yếu tố tạo thành : liều lượng sinh vật và tinh thần kết hợp xác định được cái mà người ta gọi là “ cá thể ”, “ tính cách ” con người. Ngoài ra, định lượng hóa sinh này không bao giờ ổn định. Về cơ thể, trong một thời gian, có khi nồng độ toan chất hay kiềm chất dư thừa, hay là sự bài tiết thái quá của các mô tuyến. Những nhân tố này và còn nhiều thứ khác nữa, như là các yếu tố vô thức do tính di truyền, văn hóa, giáo dục, môi trường xã hội của chúng ta … Chúng tác động không ngừng, và sự quân bình hay mất quân bình xác định việc biến đổi cá tính.

               Nhưng có thể phân biệt mỗi người theo khuynh hướng chế ngự cá nhân. Môn sinh lý học hiện đại đã chứng tỏ rằng trào lưu tâm lý có xu hướng theo cùng một con đường do một cá thể đã xác định. Trong bộ óc của nó, các não thùy liên kết theo một vài bố cục tương ứng với diễn tiến chậm thông thường của suy nghĩ. Nhiều phật tử, gần như cùng một kiểu, nói nôm na : do sự lặp đi lặp lại của những hành vi và suy nghĩ tiếp diễn nên một vài cấu trúc tinh thần được thành hình. Điều mà người ta thông thường gọi là “ Thức ” thực ra chỉ là những “ cấu trúc tinh thần  ”, những “ quán-năng ” của ngũ uẩn tạo thành : toàn bộ tiến trình trí tuệ và tâm lý được phát triển liên tiếp trong các kiếp sống quá khứ cho đến cuộc sống hiện tại. Chính “nghiệp chướng” này tạo nền tảng cho những khuynh hướng “ tốt ” hay “ xấu ” của cá nhân, xác định điều mà người ta gọi là “ cá tính ” và trở thành “ cái Tôi hiện sinh ”.  

              “ Ngiệp chướng ” là hệ lụy của những hành động đã qua, gắn liền với “ luật nhân quả ”, nó thể hiện một lực lượng trì hoản, cản trở con người sống toàn vẹn trong cuộc đời và vun đắp tiềm lực căn bẳn.

                 Mặc dầu với sự tiến hành của các nền văn minh, sự phát triển các nền văn hóa khác nhau, với những tiến bộ xã hội, khoa học, kỹ thuật, kỹ nghệ, … nhân loại lại càng ngày càng đau khổ nhiều hơn. Nỗi sợ hải, lo âu, khắc khoải, hình như là số phận hằng ngày của mỗi cá nhân, mỗi xã hội và mỗi quốc gia.                              

                 Trong khoảng 25 thế kỷ, sự gạt bỏ phiền lụy vẫn còn là trọng tâm của học thuyết Phật giáo. Theo Đức Phật, đau khổ do sự “ vô thức ” này, không hiểu rằng con người sinh ra đã mắc “ điều kiện ”, vướng vào “ nghiệp chướng ”, phụ thuộc vào “ cái Tôi hão huyền ”, không vĩnh cửu, mà cứ tưởng lầm rằng đó là  “ cái Tôi chân chính,  cái Tôi nguyên thủy !  

                 Nhận thức được điều đó để thoát ra khỏi vòng lẫn quẫn, vô minh này, tức là “ giác ngộ ” mục đích trước tiên của đạo Phật.

                 Sự biến mất của khổ đau, khả năng thoát khỏi những khó khăn vật chất ( và  tinh thần ! ), kể cả sự thanh thản tuyệt đỉnh ở Niết Bàn, tất cả chỉ là hậu quả của  “ giác ngộ ” , nên tránh xem như đồng nghĩa với “ thiên khải  ”. Cũng thế, chúng ta không thể dịch Niết Bàn là Thiên Đàng !                

                Trong cuộc chiến đấu để tồn tại và chống lại việc xâm chiếm của Trung hoa, người Việt đã tự trau giồi một nền văn hóa riêng, và bằng mồ hôi lẫn máu của mình xây dựng một quốc gia riêng biệt, một đất nước có thế lực ở Viễn - Đông. Nhưng bây giờ họ không thể hoàn toàn đứng ra ngoài nền văn minh đã có hàng nghìn năm của nước láng giềng lớn mạnh.           

                Như thế, tất nhiên, trong đời sống hàng ngày của một người dân Việt, cách này hay cách khác, củng có dấu ấn của ba chủ thuyết tôn giáo, ba trào lưu tư tưởng này. Không một hành động quan trọng nào, không có cách xử sự gia đình, tình yêu, thân hữu nào, không nghi lễ nào, không hoạt đông xã hội nào, chiều hướng văn học, triết học nào thoát khỏi ảnh hưởng của họ ( Tuy nhiên, một vài hoạt động hay nghi lễ Trung hoa quá phức tạp, quá rườm rà, thì được đơn giản hóa hoăc sửa đổi để thích nghi với phong tục tập quán của xứ sở ). Bấy giờ, mỗi người Việt đã được ghi dấu nhiều hay ít bởi ba xu hướng trên mà lợi ích thống trị của mỗi xu hướng làm thay đổi tùy theo sự tiến triển của tuổi tác và tùy thuộc những đột biến cuộc sống.            

                Người ta có thể nói dân chúng đã thấm nhuần các tư tưởng theo kiểu cách suy nghĩ và cảm xúc của họ, khác hẳn với những người phương Tây.            

                Để am hiểu người Việt, tiện lợi khi khảo sát, trước tiên người ta gọi là phương Đông và phương Tây, hai vùng. Nhất là người phương Tây, thường xem như là hai thái cực không bao giờ gặp nhau. Giáo thuyết Kinh Dịch cho phép chúng ta hiểu : một nền văn minh có thể là trội tính Dương ( văn minh phương Tây ) hay trội tính Âm ( văn minh phương Đông),  như một con người có thể là trội tính Dương ( nam ) hoặc trội tính Âm ( nữ ). Một người đàn ông có quá nhiều tính Dương trở nên vô cùng tàn nhẫn, hung hăng nhiều, quậy phá liên tục, quá trớn trong hành động. Một phụ nữ với quá nhiều tính Âm thì đam mê vô độ, phục tùng mù quáng, quá thụ động, chậm phản ứng. Một bản thể “ quân bình ” hay đúng hơn “ hài hòa ”, là người biết tiết chế hai phần Âm và Dương trong mình, bằng cách biết thể hiện Âm hay Dương tùy theo hoàn cảnh, tùy người giao tiếp, gặp gở. Điều này có thể thực hành ở một cá nhân nhưng khó áp dụng trong một tập thể, xã hội hoặc một quốc gia, vì bị số đông chi phối. Văn hóa xuất phát từ một nền văn minh, có mục đích không chỉ là tích hợp những tiếp thu trong các lãnh vực khác nhau mà còn tìm cách điều hòa hai lực Âm và Dương :   
              - Lực Dương : tinh thần tranh đua, cạnh tranh, nhu cầu tăng trưởng, chế ngự, khẳng định, kỹ thuật tiến triển trong các lãnh vực khoa học, y học, xã hội, kinh tế …       
               - Lực Âm : tinh thần hợp tác, nhu cầu điều hợp, hòa giãi, kỹ thuật luân phiên, công nghệ nhẹ - nhất là ngành y khoa -, tham gia lãnh vực sinh thái … 

               Nền văn minh Dương, đã bao hàm mầm Âm, đi đến đỉnh cao trào đồng thời xâm vào ngõ cụt, có thể ngã về phía nền văn minh Âm trong khi vẫn giử những tiếp thu, và chấp thuận một cách mềm dẻo các khả năng cải biến. Đó là trường hợp hiện nay của nền văn minh phương Tây, đồng hành cùng với nền văn minh phương Đông đang tiến hóa theo chiều ngược, tiến triển từ thời Âm qua thời Dương.

                                 Thờ cúng Tổ Tiên              

               Những người Việt nam, văn hóa Âm, giữ gìn các truyền thống xa xưa mà đặc trưng nhất là việc thờ cúng tổ tiên. Người phương Tây xem việc này như là một hình thức mê tín, nhưng thật ra phong tục cổ này chứa đựng nhân tính sâu xa :  

              Đây là sự tôn kính cội nguồn, Thiên nhiên ( “ Uống nước, nhớ nguồn ”, tục ngữ dân gian ), dẫn đến lòng biết ơn, tôn kính các bậc Tiền bối, tôn kính tổ tiên, tôn trọng cha mẹ, tôn trọng Thầy, tôn trọng các vị cao niên, tôn trọng đất nước và xem trọng môi trường thiên nhiên. Khái niệm biết ơn, ở trong quan niệm “ Hiếu ” của đạo Khổng, là đặc tính của bậc thượng lưu, người “ quân tử ” trong đạo Khổng mà mọi người đều mong ước thành đạt.   

                                Tính Tương hợp, thích nghi

                Đây là nguyên tắc “ Lễ ” đạo Khổng quy định cách xử sự cá nhân và xã hội của người Việt. Phương Tây có khuynh hướng, theo bình luận của họ, nhìn cử  chỉ “ chắp tay cúi đầu ” như là lễ phép thái quá, dấu hiệu của phục tùng hoặc thiếu tự tin, trong khi chỉ là hình thức quy ước sự tôn trọng đối với người khác, người đối thoại, có chủ tâm không gây hấn. Quả thật, cái “ ngã-dương ” của họ về bản chất khác hẳn cái “ ngã-âm ” phương Đông, không dễ dàng nắm bắt được phong thái đạo Khổng, theo đó : “ Khiêm nhường là khởi đầu sự khôn ngoan ”. Châm ngôn này khuyên dạy, nếu có thể, đễ cái ngã ( cái Tôi ) ra một bên trong quan hệ xã hội. Những người “ quân tử  ” đều hoàn toàn ý thức điều đó ; còn những người khác thi hành việc ấy theo lễ phép truyền thống.     

               “ Vận hành ” là một nguyên tắc khác của đạo Khổng bổ sung cho nguyên tắc trên, như là một khuôn mẫu đúng đắn cần thiết cho cơ thể, tình cảm và tinh thần, mà mỗi người nhắm đạt đến trong cách cư xử đối với chính mình cũng như đối với người khác.               

              “ Phải xử sự tương xứng với tên của anh ”, “ Vua phải hành xử đúng là vua, cha làm trọn vai cha ”. Đạo đức xã hội này được vận hành theo khái niệm “ Trung Dung ” mà phương Tây dịch là : “ Giữa không đổi ”, “ Ngay ở giữa ” hay “ Giữa thích ứng  ”. Nhờ nhà hán học pháp Etiemble : thành ngữ cuối là gần nhất với nghĩa căn bản. “Giữa không đổi ” cho là khá cứng nhắc, thiếu mềm dẻo. “ Ngay ở giữa ” gợi lên ý “ trung bình ” thông thường, áp đặt giới hạn quy ước. “ Giữa thích ứng  ”, theo ông, nói đến sự lựa chọn, gợi ra cách cư xử cá nhân, nhưng khôn khéo, thận trọng, thích đáng, phù hợp với hoàn cảnh, với hữu thể,vật thể và môi sinh, trong điều hòa “ Âm ” và “Dương”. 

                               Tính Cảm thụ      

                  Đây là một nét điển hình của “ Âm ”, dưới hình thức tò mò không ngừng, nhu cầu hiểu biết vô hạn, cho phép người Việt rất mau chóng thích ứng và hòa nhập với hoàn cảnh mới. Trái lại với những người phương Tây, điều này làm cho họ chấp nhận và hấp thụ, dễ dàng hơn, những nền văn hóa ngoại lai.       

                                Tính Nhẫn nhục  

                  Luận thuyết đấu đầu chống lại nỗi đau khổ của đạo Phật, nếu chưa có thể đưa tất cả người Việt lên cõi Niết bàn thì nghịch lý cho họ những nét đặc trưng đậm chất “ Âm ”: kiên trì, nhẫn nhục và chịu đựng sự đau khổ. Đôi khi, không nên nhầm lẫn nhẫn nhục với chấp nhận thụ động hay phục tùng hoàn toàn.  

                                Tính Lạc quan    

                Ảnh hưởng của đạo Lão, kết hợp với ảnh hưởng đạo Phật, tạo ra ở người Việt – ngược lại với đa số người phương Tây – một cách nhìn khá lạc quan về thế giới, dù ít hay nhiều cũng làm họ cách xa sự sợ hãi, lo âu hiện hữu, và cho phép dễ dàng đối đầu với những khó khăn trong đời sống hàng ngày.              

                               Lòng Khoan dung              

                Việc chấp nhận ba học thuyết trong tư duy và lối sống của người Việt nam đã tự chứng tỏ tinh thần khoan dung. Và không có thái độ khoan dung thì không có nhu cầu bẩm sinh về hợp nhất những trái ngược và hòa giải các đối kháng ( nghĩa là chấp nhận tính đối chiếu nhị nguyên và những sai biệt khác). Tư duy biện chứng hiển nhiên này là chung cho ba trào lưu triết lý-tôn giáo mà ít nhiều tất cả đều bắt nguồn từ Kinh Dịch ( tư duy không chủ định nơi Khổng Tử, biểu hiện ở Lão Tử, tự tại nơi Đức Phật ).      

                               Triết lý hiện sinh  

               Tư tưởng tiêu biểu của triết học phương đông được áp đặt trong đời sống thường ngày của mỗi cá nhân. Đây là một giai thoại dân gian mà người ta nghe kể lại trong mọi tầng lớp xã hội. Đó là câu chuyện  “ Tái Ông mất ngựa  ”. :             

                Tái Ông là chủ một con ngựa quý bị thất lạc trong thiên nhiên. Những người hàng xóm đến an ủi ông ta. Ông nói với họ rằng : “ Mất con ngựa, đó không phải là tai họa ”. Vài ngày sau, con ngựa đi lạc trở về, dẫn theo một con khác. Những người láng giềng đến chúc mừng ông. Ông dõng dạc nói họ : “ Có thêm một con ngựa không hẳn là phúc hay họa ”. Con ông đang lúc thử thuần hóa con ngựa hoang thì bị ngã xuống gảy chân. Những người lân cận lại đến an ủi vừa nói : “ Đây là tai họa ”. Tái Ông nói với họ nhẹ nhàng : “ Có đứa con thương tật không hẳn là tai họa ”. Vài tháng sau, nhà Vua ra sắc lệnh tổng động binh. Những thanh niên của làng ra đi chiến đấu đều chết hết, ngoại trừ đứa con của Tái Ông bảo toàn được sinh mạng nhờ cái chân bị gảy. 

               Tư tưởng biện chứng này cũng hiện diện nơi NGUYỂN DU ( 1765 – 1820 ). Biệt danh là “ đại thi hào quốc gia ” Việt nam, ông là một nho sĩ mẫu mực, có cuộc sống thấm nhuần ba trào lưu tư tưởng : học trò Không Tử lúc nhỏ và  tuổi thiếu niên, theo Khổng và Lão ở tuổi trưởng thành, nghiêng về Lão khi đã đứng tuổi, cùng theo đạo Khổng, Lão, Phật, rồi hướng đến đạo Phật lúc già nua.                 

               Dẫn chứng, bài thơ này kết thúc truyện Kim Vân Kiều :     
 
               Ngẫm hay muôn sự tại Trời,            
               Trời kia đã bắt làm người có thân.                
               Bắt phong trần phải phong trần,    
               Cho thanh cao mới được phần thanh cao.   
               Có đâu thiên vị người nào,              
               Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,  
               Có tài mà cậy chi tài,         
               Chữ tài liền với chữ tai một vần.    
               Đã mang lấy nghiệp vào thân,        
               Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.           
               Thiện căn ở tại lòng ta,     
               Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. 

               Bình luận :           

               Trong bài thơ này, chúng ta phân định những ảnh hưởng của ba dòng tư tưởng :         
               -  Tư tưởng Khổng  ( bốn câu thơ đầu ) : Phục tùng Trời và Vua ; Vua được xem như là con của Trời, người nhận ủy thác của Trời để cai trị đất nước.  
               -  Tư tưởng Lão ( bốn câu thơ tiếp theo ) : Quyền tự do con người, trách nhiệm đối với chính mình, độc lập với Trời ( và tách biệt đối với Vua ), xem thường lợi danh và thú vui trần thế. 
               -  Tư tưởng Phật, Lão và Khổng ( bốn câu thơ cuối ) : Lòng bao dung quảng đại ; Nghiệp chướng đạo Phật ( toàn bộ các hành động đã qua, tốt hay xấu ) tuân theo luật nhân quả. Tính trung lập của Trời theo Lão Tử. Sự thức tỉnh của tâm hồn, bản tính thiện theo Mạnh Tử, môn đệ của đạo Khổng.       

L.Đ.T.   
Le Mont – Thụy Sĩ           
Xuân 1969.       

   
Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe.

                                   

                                    

                                           TỔNG HỢP BA TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG

                Phật giáo biến mất khỏi Ấn Độ từ thế kỷ thứ VII, và mất hẳn sau sự xâm chiếm A Rập, ảnh hưởng Ấn độ ngừng tác động và đạo Phật trở thành đặc hiệu trung hoa bằng cách kết hợp hai học thuyết lớn trung hoa : đạo Lão và đạo Khổng.  

              Sự tổng hợp được thực hiện bởi Chu Hi ( 1130 – 1200 ), nhà triết học lớn nhất của lịch sử Trung hoa. Đào sâu nghiên cứu “ thực tại tận cùng ” đạt được nhờ vào “ ” thể hiện trong chúng ta bởi sự “ không liên kết ” ( năm thế kỷ sau, tất cả đều như thánh Jean de la Croix đã nói một cách tài tình là nên làm khoảng trống trong chúng ta để Chúa ngự đến phủ kín chỗ này ). Ông đồng nhất hóa thực tại tận cùng này với Đạo của Lão Tử và Trang Tử. Khởi thủy của những tồn tại có cái không tồn tại ( nghĩa là tổng thể của những cái có thể ) vậy thì thực tại là sáng tạo vĩnh cửu. Như thế Chu Hi đã nhận thức được những ý niệm cao nhất của siêu hình học đạo Hin-đu, đạo Bà la Môn cũng như đạo Phật.     

                 Điều gì đặc biệt Trung Quốc trong Chu Hi, là ông chú trọng đến các quy luật của thiên nhiên, sự di chuyển lớn về bành trướng và khác biệt, của tiến hóa và thoái hóa, qui hồi về nơi vô định ( ngày nay chúng ta gọi là “ l’entropie ” ).            

                  Cuối cùng, trong tính nhất quán sâu xa của con người và thiên nhiên, của vật chất và tinh thần, những quy tắc đạo đức có thể suy ra những định luật vũ trụ. Sự tổng hợp này đó là đạo Khổng mới, khác với chủ nghĩa thực nghiệm của đạo Khổng ( chúng ta nói là chủ nghĩa thực chứng ) đem lại cho đạo đức học một nền tảng triết học quân bình

                  Khoa học trung hoa, từ nguồn gốc ( từ Kinh Dịch hay “ Sách di chuyển ”, gồm có ba điểm chính :     

                  Trước tiên, sự tiếp cận biện chứng của khoa học, không phải là “ luận lý cơ học ”, mà do sự hoạt động hỗ tương của hai nguyên tắc “ âm ” và “ dương ” bao hàm khái niệm biến chuyển lên và xuống, hành động và phản ứng ở bên trong của toàn bộ các hiện tượng. 

                   Tiếp theo, quan điểm có hệ thống về thế giới của nó ( trái ngược với thuyết cơ giới phương tây của Démocrit, Décartes, Laplace ). Mỗi hiện tượng được gắn liền với những hiện tượng khác. Mô hình có hệ thống này biểu lộ một khả năng lớn : bằng cách ưu tiên những thuyết về phạm trù tiếp diễn ( không phải các thuyết có tính triết học cơ giới về nguyên tử và chân không ), những nhà bác học trung hoa là những người đầu tiên đã phát minh ra la bànluận thuyết thủy triều. Giả thuyết ngụy tạo của “ hoạt động gián tiếp ” không quan trọng đối với họ : một kim nam châm chỉ hướng thái cực, và mặt trăng tác động lực hấp dẩn đến các đại dương, đó là những trường hợp đặc biệt của một thế giới mà ở đó mọi bản thể đều thuộc về một phạm trù duy nhất.    

             Cuối cùng là toán học trung hoa, cốt lõi đại số và hình học. Từ thế kỷ XII đến XIV, những nhà toán học trung hoa đã chỉ cho thế giới cách phân giải các phương trình. Năm 1300, bài toán tam giác ( phương Tây gọi là “ tam giác Pascal ” ) đã được biết ở Trung hoa ( bốn thế kỷ trước Pascal ).     

             Người Trung hoa đầu tiên đã khám phá ra phân cố thập phân và đã biết diễn đạt số nhiều bằng chín con số, khoảng trống trắng biểu thị số không.

             Phụ chú :

            Hai tài liệu ở Thư Viện quốc gia Pháp ở Paris :
            1.- Một kiểu "la bàn" trung hoa
            Một con cá bằng sắt đốt lửa đỏ rồi nhúng xuống nước lạnh đễ được truyền từ khí. Nổi trên mặt nước trống không khí, cái đuôi chỉ hướng Bắc và cái đầu chỉ hướng Nam.
            2.- Tam giác Pascal
            Blaise Pascal năm 1654 xử dụng đễ tìm bình phương căn nhân lên 6 bực. Đã tìm ra ở Trung quốc vào thế kỷ 11 do Jia Xian (nguồn Wikipedia).